
Nằm ven đầm Cù Mông (xã Xuân Cảnh, tỉnh Đắk Lắk), làng nghề muối hầm cổ Tuyết Diêm đã tồn tại hơn 150 năm. Đằng sau những hạt muối trắng tinh khiết là bao nhọc nhằn, vất vả và những giọt mồ hôi mặn chát của người dân bền bỉ gìn giữ nghề truyền thống qua nhiều thế hệ.

Qua ống kính chân thực của các nhiếp ảnh gia, bức tranh lao động ở làng muối Tuyết Diêm hiện lên đầy sống động, khắc họa rõ nét sự nhọc nhằn của một nghề truyền thống hơn 150 năm tuổi, đồng thời tôn vinh tinh thần bền bỉ bám nghề của những diêm dân đã dành trọn cuộc đời gắn bó với hạt muối.
Để tạo ra những hạt muối trắng, diêm dân phải phơi mình dưới cái nắng như thiêu đốt suốt 4 - 5 ngày liên tục. Nắng càng gắt, muối càng nhanh kết tinh, nhưng cũng là lúc sức lực của người làm muối bị bào mòn nhiều nhất.
Giữa cái nắng như đổ lửa, diêm dân còng lưng cào muối thành từng luống, rồi gánh những quang muối nặng trĩu về bãi tập kết. Những tấm lưng sạm nắng, làn da rám màu gió biển và đôi mắt cay xè vì hơi muối bốc lên là hình ảnh quen thuộc của những người gắn bó cả đời với nghề.

Việc thu hoạch muối sống trên cánh đồng chưa phải vất vả nhất, điểm đặc biệt nhất ở làng muối Tuyết Diêm chính là quy trình trắng đêm bên lò lửa hàng trăm độ để cho ra dòng muối hầm huyền thoại. Để ghi lại đầy đủ quy trình làm muối hầm của diêm dân, các nhiếp ảnh gia phải thức từ đêm đến sáng, thử thách sức bền khủng khiếp cùng với diêm dân trong hầm nung.

Muối hạt sau khi thu hoạch sẽ được cho vào các chậu đất gốm và nung liên tục trong lò củi từ 12 - 24 tiếng tùy theo nhiệt độ nung. Thường công việc hầm muối chỉ bắt đầu từ đêm cho đến sáng.

Để mẻ muối chín đều, diêm dân phải luôn giữ ngọn lửa cháy ổn định dưới các chậu muối. Khi than củi bên dưới đã rực hồng, họ nhanh tay xúc than phủ ngược lên mặt lò, giúp nhiệt lan tỏa đều từ trên xuống dưới. Dưới ánh đèn neon leo lét, ánh lửa hồng hòa cùng làn khói mặn đặc quánh. Trong không gian hầm hập hơi nóng, những người làm muối luôn tay, luôn chân, mồ hôi thấm đẫm áo.

Dưới đôi bàn tay gầy guộc, sạm đen và hằn đầy vết chai của diêm dân, những hạt muối thô sau nhiều giờ trong lửa đỏ dần vỡ ra, hóa thành những tinh thể trắng mịn, li ti như bông tuyết.

Bà Nguyễn Châu (50 tuổi) một trong những thương lái chuyên thu mua muối hầm tại làng muối Tuyết Diêm chia sẻ, muối hầm tại đây có vị mặn dịu nhẹ, không chát như muối hột, thơm lành và có thể cất giữ cả năm mà không bị ẩm ướt. Nhờ quy trình chế biến thủ công công phu, giá trị hạt muối hầm bán tại lò dao động từ 6.000 - 7.000 đồng/kg, tùy thời điểm.

Anh Nguyễn Phước Hoài (39 tuổi, nhiếp ảnh gia đến từ Quy Nhơn) chia sẻ, một đêm ở hầm muối Tuyết Diêm dường như vắt kiệt sức, anh cảm nhận cái giá phải trả cho từng ký muối hầm là quá lớn so với sức lao động mà diêm dân bỏ ra. Đứng cách sức nóng trăm độ của lò lửa chỉ vài vài bước chân hòa cùng làn khói, hơi muối đặc quánh, anh phải dùng vải dù bọc hết các trang thiết bị tác nghiệp để “giữ máy”.

“Những khoảnh khắc khó khăn, vất vả của diêm dân đã mang lại vẻ đẹp của sự nhẫn nại. Tôi muốn ghi lại những bức ảnh tư liệu về Tuyết Diêm không đơn thuần là nghệ thuật mà còn là giá trị của một làng nghề trăm tuổi đang đối mặt với nguy cơ mai một. Bức tranh lao động tại đây giờ chỉ còn lại những diêm dân lớn tuổi, cố bám trụ với nghề của cha ông để lại”, nhiếp ảnh gia Nguyễn Phước Hoài chia sẻ.
Làng muối Tuyết Diêm vùng ven đầm Cù Mông tại xã Xuân Cảnh (tỉnh Đắk Lắk) vẫn đang miệt mài với cách làm muối mà cha ông họ đã làm hơn trăm năm qua. Đó là làm da, lấy nước, chứa nước, phơi kết tinh, thu hoạch muối sống và hầm muối.
Làng nghề muối Tuyết Diêm hiện có khoảng 122 ha ruộng muối với 850 xã viên tham gia sản xuất muối. Sản phẩm muối Tuyết Diêm làm ra được tiêu thụ khắp cả nước thông qua các đơn vị phân phối và cầu nối là Hợp tác xã muối Tuyết Diêm, với sản lượng mỗi năm giao động từ 12.000 - 16.000 tấn.
Sản phẩm từ làng nghề muối hầm Tuyết Diêm không chỉ có giá trị về mặt kinh tế khi tạo nguồn thu nhập cho diêm dân mà còn là sản phẩm làng nghề được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Làng nghề muối ở khu vực này đang là nguyên liệu quý giá để xây dựng điểm đến du lịch sinh thái cộng đồng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương - một chỉ dấu quan trọng trên “Con đường di sản muối Việt Nam”.

























