Xuất bản ngày 14/08/2026 01:30 PM

Ngộ nhận ‘mặc áo nâu là nhà sư’ và sự thật hành trình xuất gia trong Phật giáo

(VTC News) -

Cạo tóc, mặc áo nâu, sống trong chùa chưa đủ là dấu hiệu xác định ai đó là nhà sư; đời sống xuất gia có những bước tu học, thọ giới và xác nhận cụ thể.

Trong đoạn video gây phẫn nộ tại chùa Bầu - Phật Quang Tự (phường Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ), người đàn ông đánh chú tiểu mặc quần áo màu nâu, cạo đầu nên khi chưa rõ thông tin, không ít người trên mạng xã hội gọi ngay là “sư”, “thầy” hoặc “nhà sư”.

Chiếc áo không nói hết người mặc nó là ai

Thông tin được công bố sau đó cho thấy cần thận trọng hơn với cách gọi. Công an tỉnh Phú Thọ xác định người này là Nguyễn Thế Duy, sinh năm 2001, “đang tu tập tại chùa Bầu - Phật Quang tự. Duy đã bị khởi tố, bắt tạm giam về tội “Cố ý gây thương tích”. Trước đó, bộ phận truyền thông cũng nhà chùa cho biết người đàn ông này không phải tỳ-kheo, mà là Phật tử mới tới làm công quả và tu tập trong thời gian ngắn.

“Đang tu tập tại chùa” là mô tả về nơi và tình trạng sinh hoạt; tỳ-kheo lại là một giới phẩm trong quá trình xuất gia, phải trải qua việc thọ giới theo quy định của Phật giáo.

Ngay cả màu áo cũng không phải căn cứ đủ để xác định tư cách ấy. Quy chế Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ 2022-2027 quy định riêng về sắc phục của tăng ni.

Với Phật giáo Bắc tông, tỳ-kheo có thể mặc áo tràng nâu; sa-di có áo nhật bình nâu. Hàng giáo phẩm tăng có thể dùng áo tràng nâu hoặc vàng sậm. Nhưng thường phục khi lao động, chấp tác có kiểu dáng và màu sắc tùy nghi; các hệ phái Nam tông và Khất sỹ lại có truyền thống pháp phục riêng.

Áo nâu là hình ảnh quen thuộc trong đời sống Phật giáo Việt Nam, nhưng màu áo không phải căn cứ để xác định một người đã xuất gia hay thọ giới ở cấp nào. (Ảnh: Giacngo.vn)

Áo nâu là hình ảnh quen thuộc trong đời sống Phật giáo Việt Nam, nhưng màu áo không phải căn cứ để xác định một người đã xuất gia hay thọ giới ở cấp nào. (Ảnh: Giacngo.vn)

Nói cách khác, “người mặc áo nâu” là một mô tả hình ảnh; “tỳ-kheo” là tư cách gắn với quá trình thọ giới và tu học. Khoảng cách giữa hai khái niệm ấy sâu sắc hơn nhiều so với màu sắc một bộ quần áo.

Từ bước vào cửa chùa đến tỳ-kheo là cả quá trình

Trong đời sống thường ngày, người mới tới sống ở chùa, cạo tóc, mặc áo tu đôi khi đã được người xung quanh gọi thân mật là “chú tiểu”, “thầy”. Nhưng hệ thống tăng sự của giáo hội phân định cụ thể hơn.

Quy chế Ban Tăng sự hiện hành gọi những nam, nữ Phật tử sống và tu hành tại tự viện nhưng chưa xuất gia là “tịnh nhân”, nếu thuộc các điều kiện được quy định.

Muốn chính thức xuất gia trong hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng không đơn giản chỉ là xin vào chùa rồi xuống tóc. Người phát tâm xuất gia phải đáp ứng những điều kiện nhất định; có sự bảo lãnh của trụ trì hoặc Trưởng ban Quản trị tự viện, được Ban Trị sự nơi xuất gia chấp thuận và hoàn tất hồ sơ.

Sau khi các thủ tục được thực hiện, Ban Tăng sự cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận xuất gia. Hồ sơ này được quản lý trong hệ thống giáo hội.

Nhưng có giấy chứng nhận xuất gia vẫn chưa đồng nghĩa đã trở thành tỳ-kheo. Theo Quy chế Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, người mới xuất gia phải trải qua 2 năm tập sự, thường được gọi là chúng điệu, dưới sự hướng dẫn của trụ trì hoặc Trưởng ban Quản trị tự viện, tính từ ngày được cấp giấy chứng nhận xuất gia.

Trong thời gian này, họ được hướng dẫn những nội dung căn bản về giới luật, uy nghi, thời khóa tụng niệm và Phật pháp. Sau thời gian ấy, nếu đáp ứng điều kiện, người tu mới có thể được giới thiệu để thọ giới sa-di.

Xuất gia, theo nghĩa nghiêm túc của Phật giáo, không bắt đầu và kết thúc ở việc cạo tóc hay khoác lên mình một màu áo.

Xuất gia, theo nghĩa nghiêm túc của Phật giáo, không bắt đầu và kết thúc ở việc cạo tóc hay khoác lên mình một màu áo.

Để được tuyển chọn thọ giới sa-di, quy chế yêu cầu người xuất gia phải có thời gian tu học ít nhất 2 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận xuất gia, đáp ứng điều kiện về học tập, nghi thức và phải vượt qua kỳ khảo hạch của giới đàn. Sau khi thọ giới hợp lệ, giới tử được cấp chứng điệp thọ giới.

Sa-di vẫn chưa phải tỳ-kheo. Muốn thọ giới tỳ-kheo - thường gọi là thọ cụ túc giới - phải đủ 20 tuổi, đã thọ giới sa-di ít nhất 2 năm và học giới luật; đồng thời đáp ứng các điều kiện về học vấn, tư cách và trúng tuyển kỳ khảo hạch của giới đàn theo quy chế hiện hành.

Như vậy, nếu tính theo quy trình thông thường hiện nay của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, từ khi được cấp giấy chứng nhận xuất gia tới lúc đủ điều kiện dự tuyển thọ tỳ-kheo đã là một quá trình kéo dài nhiều năm.

Với ni giới, hành trình còn có các nấc sa-di-ni - thức-xoa-ma-na - tỳ-kheo-ni. Phật giáo Nam tông và hệ phái Khất sỹ có những đặc thù riêng theo truyền thống hệ phái.

Những nấc này không đơn thuần là thay đổi danh xưng. Đằng sau đó là thời gian sống trong tăng đoàn, học giới luật, rèn uy nghi, học Phật pháp và tập chịu trách nhiệm với đời sống mà mình đã lựa chọn.

Hiểu đúng các danh xưng trong đời sống tu hành

Trong đời sống thường ngày, những cách gọi như tỳ-kheo, đại đức, thượng tọa, hòa thượng hay trụ trì đôi khi được hiểu như những “cấp bậc” nối tiếp nhau. Thực tế, đây là những danh xưng thuộc các nhóm khác nhau; có danh xưng gắn với việc thọ giới, có giáo phẩm được Giáo hội tấn phong, và có chức vụ gắn với trách nhiệm quản lý, điều hành.

Thực tế cần phân biệt ít nhất ba lớp.

Tỳ-kheo, sa-di là những danh xưng gắn với việc thọ giới. Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện hành xếp tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, sa-di, sa-di-ni, thức-xoa-ma-na vào thành phần đại chúng của Giáo hội.

Thượng tọa, hòa thượng là giáo phẩm của tăng; tương ứng bên ni có ni sư, ni trưởng. Việc tấn phong giáo phẩm có quy trình riêng, hồ sơ riêng và phải được Giáo hội xét duyệt, Đức Pháp chủ ban hành giáo chỉ theo quy định.

Còn trụ trì, trưởng ban trị sự, phó trưởng ban, trưởng ban tăng sự... là những chức vụ hoặc trách nhiệm trong tổ chức, quản trị tự viện và Giáo hội. Một người giữ chức vụ nào không có nghĩa chức vụ ấy là một giới phẩm cao hơn trong đường tu.

Trong giao tiếp, Phật tử thường kính gọi người xuất gia là “thầy”, báo chí cũng quen dùng “nhà sư”. Những cách gọi ấy không có gì bất thường nếu đã xác định đúng đối tượng. Vấn đề xuất hiện khi chỉ nhìn thấy chiếc áo, mái đầu cạo hoặc việc một người đang ở trong chùa rồi tự suy ra tư cách tu sĩ cụ thể của họ.

Vụ việc tại chùa Bầu cho thấy một chi tiết tưởng nhỏ nhưng đáng để chúng ta lưu ý. Website của Công an tỉnh Phú Thọ dùng cách diễn đạt thận trọng “đang tu tập tại chùa”. Còn việc người đó đã xuất gia chính thức hay chưa, đã thọ giới nào, có chứng điệp thọ giới hay không là những dữ kiện khác, muốn khẳng định phải có căn cứ tương ứng.

Điều này cũng giúp tránh một suy diễn rộng hơn; hành vi của một cá nhân mặc trang phục tu hành hoặc sống trong môi trường chùa viện không tự động trở thành hành vi đại diện cho một giới phẩm, một tăng đoàn hay cả một tôn giáo.

Xuất gia, theo nghĩa nghiêm túc của Phật giáo, không bắt đầu và kết thúc ở việc cạo tóc hay khoác lên mình một màu áo. Chiếc áo là phần người ngoài nhìn thấy trước tiên; còn để trở thành một người xuất gia đúng nghĩa là cả quá trình dài phát nguyện, học tập, thọ giới, rèn luyện và sống với những giới pháp mình đã nhận lãnh.

Bởi vậy, trước một hình ảnh trên mạng, có lẽ câu hỏi đúng không phải là: “Người này mặc trang phục gì?“ mà là: “Người này thực sự có tư cách gì?“.

Pháp Định
Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn
Cùng chuyên mục
Tin mới