Theo lương y Bùi Đắc Sáng, Hội Đông y Hà Nội, cây xạ đen còn được gọi là bách giải, bạch vạn hoa, đồng triều, đơn lá chè hoặc “cây ung thư” theo cách gọi của người Mường. Đây là loài thực vật phân bố ở Trung Quốc và nhiều nước Đông Nam Á như Việt Nam, Myanmar, Thái Lan, thường mọc ở vùng núi cao từ 1.000 đến 1.500 m.
Tại Việt Nam, cây xuất hiện nhiều ở Hòa Bình, Ninh Bình, Thừa Thiên Huế và các khu rừng như Vườn quốc gia Cúc Phương hay Vườn quốc gia Ba Vì.
Trong Đông y, xạ đen vị đắng chát, tính hàn, thường được dùng để thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu và hỗ trợ tăng cường sức đề kháng. Một số nghiên cứu cho thấy dược liệu này chứa các hợp chất như polyphenol, flavonoid, quinone, saponin triterpenoid… góp phần chống oxy hóa, kháng khuẩn và hỗ trợ ức chế sự phát triển của tế bào bất thường.

Xạ đen, dược liệu quen thuộc trong Đông y. (Ảnh: Như Loan)
Tuy nhiên, không phải ai cũng phù hợp sử dụng nước xạ đen. Phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ dưới 5 tuổi được khuyến cáo tránh dùng. Người có huyết áp thấp cũng cần thận trọng do dược liệu có thể làm hạ huyết áp, gây chóng mặt, hoa mắt. Trường hợp vẫn muốn sử dụng, có thể kết hợp thêm vài lát gừng để giảm tính hàn.
Ngoài ra, người suy giảm chức năng thận không nên dùng xạ đen vì có thể làm tăng gánh nặng lọc thải. Người vừa sử dụng rượu bia cũng nên tránh uống nước xạ đen để hạn chế tương tác bất lợi.
Ở góc độ hỗ trợ điều trị, xạ đen thường được dùng trong các bài thuốc liên quan đến gan như viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ, đồng thời giúp giảm viêm da, mụn nhọt, hỗ trợ ổn định huyết áp và an thần. Dù vậy, công dụng “chữa ung thư” của cây vẫn cần được hiểu đúng là hỗ trợ, không thay thế các phương pháp điều trị chính thống.
Các chuyên gia khuyến nghị người dùng không nên lạm dụng, liều dùng thông thường không vượt quá 70 g mỗi ngày và cần tham khảo ý kiến thầy thuốc trước khi sử dụng để đảm bảo an toàn.
















Bình luận