Giám đốc Bệnh viện Việt Đức trăn trở tìm thêm nguồn tạng cứu người. (Video: BVCC)
“Có thể khẳng định kết quả ghép tạng của Bệnh viện Việt Đức hiện nay không thua kém nhiều quốc gia có nền y học phát triển, thậm chí một số kỹ thuật chúng tôi còn làm tốt hơn”, PGS.TS Dương Đức Hùng - Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức chia sẻ.
Ông cho biết riêng trong lĩnh vực ghép gan, bệnh viện có những thay đổi lớn về kỹ thuật sau nhiều năm nghiên cứu và hoàn thiện quy trình. Những cải tiến này giúp rút ngắn đáng kể thời gian phẫu thuật, giảm thương tổn và hỗ trợ người bệnh hồi phục nhanh hơn sau ghép.
Thời gian gần đây, bệnh viện liên tiếp triển khai thành công nhiều ca ghép đa tạng phức tạp. Sau phẫu thuật, nhiều bệnh nhân được rút nội khí quản sớm, không còn phụ thuộc kéo dài vào các thiết bị hỗ trợ hồi sức.
“Nhờ thay đổi kỹ thuật, cuộc mổ trở nên nhẹ nhàng hơn, khả năng hồi phục của người bệnh cũng tốt hơn trước rất nhiều”, PGS.TS Dương Đức Hùng nói.

PGS.TS Dương Đức Hùng - Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Dù đảm nhiệm công tác quản lý, vị giám đốc cho biết ông vẫn trực tiếp tham gia các ca mổ và ghép tạng. Điều khiến ông cùng nhiều bác sĩ trăn trở nhất là làm sao có thêm nhiều nguồn tạng để cứu người. “Chúng tôi luôn mong có thêm nhiều người đăng ký hiến tạng để nhiều bệnh nhân có cơ hội được sống”, ông chia sẻ.
Theo PGS.TS Dương Đức Hùng, bệnh viện đã xây dựng mạng lưới điều phối, đào tạo nhân lực và chuẩn hóa nhiều tình huống tiếp cận, tư vấn nhằm nâng cao hiệu quả vận động hiến tạng. Những kinh nghiệm này cũng được chuyển giao cho nhiều cơ sở y tế khác trên cả nước.
Các thay đổi trong công tác vận động hiến tạng bước đầu mang lại hiệu quả rõ rệt. Trong ba năm gần đây, số người hiến tạng tại Việt Nam tăng mạnh, đặc biệt là nguồn tạng từ người chết não.
Ông cho rằng sự thay đổi này phản ánh nhận thức cộng đồng ngày càng tích cực hơn về trách nhiệm với xã hội và giá trị nhân văn của việc hiến tạng cứu người. Truyền thông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa tinh thần ấy đến cộng đồng.
Từ ước mơ thời chiến đến kỳ tích ghép đa tạng
Từ những năm 1960, giữa bối cảnh chiến tranh, Giáo sư Tôn Thất Tùng đã ấp ủ giấc mơ thực hiện ca ghép tạng đầu tiên tại Việt Nam. Công trình cắt gan kinh điển của ông trở thành nền tảng quan trọng cho phẫu thuật gan và ghép gan hiện đại sau này.
Tiếp nối di sản ấy, Phó Giáo sư Tôn Thất Bách cùng nhiều bác sĩ trẻ đã kiên trì nghiên cứu, thực hành ghép trên động vật trước khi tiến tới những ca ghép đầu tiên trên người, từ ghép thận, gan đến tim.
Những năm gần đây, hoạt động ghép tạng tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ, đánh dấu bước tiến lớn của nền y học trong nước. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức tiếp tục giữ vai trò tiên phong cả về số lượng ca ghép lẫn độ khó kỹ thuật.
Không chỉ thực hiện thành công nhiều ca ghép đa tạng hiếm gặp, bệnh viện còn tham gia đào tạo và chuyển giao kỹ thuật cho hàng loạt cơ sở y tế trên cả nước.

Một ca ghép tạng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Ghép tạng được xem là một trong những thành tựu y học quan trọng nhất của thế kỷ 20. Dù đi sau thế giới khoảng 50 năm và chậm hơn nhiều quốc gia trong khu vực khoảng hai thập kỷ, Việt Nam hiện đã làm chủ hầu hết kỹ thuật ghép tạng hiện đại.
Tỷ lệ sống sau ghép tại Việt Nam hiện tương đương, thậm chí ở một số nhóm bệnh còn cao hơn nhiều nước phát triển, trong khi chi phí điều trị thấp hơn đáng kể.
Từ ca ghép tạng thành công đầu tiên cách đây hơn 30 năm, Việt Nam đến nay đã thực hiện được ghép hầu hết các loại tạng và liên tiếp triển khai thành công nhiều ca ghép đa tạng phức tạp. Hai năm gần đây, các bệnh viện trên cả nước thực hiện hơn 1.000 ca ghép tạng mỗi năm, cao nhất khu vực Đông Nam Á.
Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan cho biết Việt Nam đã thực hiện hơn 10.800 ca ghép tạng. Tuy nhiên, khoảng 90% nguồn tạng hiện vẫn đến từ người hiến sống, trong khi số người chết não hiến tạng còn hạn chế.
Đến nay, cả nước có hơn 177.000 người đăng ký hiến mô, tạng sau khi qua đời. Riêng năm 2025 ghi nhận 66 trường hợp chết não hiến tạng, tăng mạnh so với những năm trước.
Theo lãnh đạo Bộ Y tế, nhận thức cộng đồng về hiến tạng đang thay đổi theo hướng tích cực hơn, ngày càng nhiều người coi đây là hành động nhân văn giúp nối dài sự sống cho người khác.















