Việc phát triển và sử dụng xăng sinh học E10 được coi là giải pháp cấp thiết nhằm bảo đảm an ninh năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Đồng thời, đây cũng là phương án tiết kiệm chi phí để đạt mục tiêu môi trường, khi E10 giúp cắt giảm phát thải CO và HC mà không cần cải tạo động cơ hay thay đổi thói quen sử dụng.

Thị trường xăng sinh học sẽ giúp bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. (Ảnh: Duy Phú)
Không yêu cầu đầu tư quá lớn
Tiến sĩ Đào Duy Anh - Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) - cho biết, Bộ đang phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn đầu triển khai, đồng thời đưa ra các giải pháp kỹ thuật chuẩn hóa hệ thống vận hành.
"Việc triển khai xăng sinh học không yêu cầu đầu tư quá lớn đối với hệ thống bồn bể, trụ bơm hay hạ tầng kinh doanh sẵn có. Các doanh nghiệp chỉ cần gia cố, nâng cấp các bể chứa và hệ thống vận hành, phối trộn nhiên liệu do xăng sinh học có đặc tính bay hơi cao hơn xăng khoáng", ông Đào Duy Anh nói.
Theo Tiến sĩ Đào Duy Anh cho biết thêm, xăng E10 là phương án tiết kiệm chi phí để đạt mục tiêu môi trường.
"Nhờ chính sách thuế môi trường thấp hơn xăng truyền thống, xăng E10 luôn có lợi thế cạnh tranh về giá trên thị trường", ông Đào Duy Anh cho hay.
Ông Trịnh Quang Khanh - Phó Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam - cho biết, trong số 17.000 doanh nghiệp phân phối xăng dầu trên cả nước, các doanh nghiệp đầu mối lớn đã có tổng năng lực phối trộn khoảng 965.000 m³/tháng, cho thấy năng lực cung ứng xăng E10 hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu thị trường khi triển khai trên diện rộng.
Ông Khanh kiến nghị sớm đưa xăng E10 ra thị trường, song lưu ý cần điều hành giá linh hoạt và điều chỉnh thuế phí hợp lý để bảo đảm nguồn cung, hỗ trợ hệ thống phân phối phục vụ người tiêu dùng tốt nhất.
Nâng cao chuỗi giá trị nông nghiệp
Theo ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam (VBFA) - xăng E10 không chỉ là giải pháp đạt mục tiêu môi trường, mà còn là cơ hội vàng cho kinh tế nông nghiệp thông qua việc mở rộng vùng nguyên liệu ethanol, tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho nông dân.
Để tạo ra 10% thành phần ethanol sinh học, nguồn nguyên liệu chủ lực là sắn, ngô và mía đường. Đây là những cây lương thực có thế mạnh của nông dân Việt Nam nhưng thường được xuất khẩu thô với giá cả bấp bênh.
Mỗi năm Việt Nam sản xuất khoảng 10,5 triệu tấn sắn, trong khi để sản xuất 1m³ ethanol cần khoảng 2,5 tấn sắn. Với mục tiêu cung ứng 1,1 triệu m³ ethanol cho xăng E10 toàn quốc mỗi năm, sẽ cần hơn 2,7 triệu tấn sắn lát, tương đương 25% tổng sản lượng.
Chiến lược này tạo ra một bức tranh kinh tế tuần hoàn hoàn chỉnh: Nông dân tham gia vào chuỗi chế biến sâu, từ canh tác đến cung ứng nguyên liệu đạt chuẩn cho nhà máy. Chất thải từ quá trình lên men còn được tái chế thành phân bón hữu cơ và thức ăn chăn nuôi, quay trở lại phục vụ đồng ruộng.

Nhà máy ethanol Dung Quất có thể vận hành với công suất 100 triệu lít/năm. (Ảnh minh họa)
Hiện, cả nước có 6 nhà máy đang sản xuất nhiên liệu sinh học E10 bao gồm: Nhà máy cồn Tùng Lâm (Đồng Nai); nhà máy cồn Đại Tân (Quảng Nam); nhà máy ethanol Dung Quất (Quảng Ngãi); ethanol Bình Phước; ethanol Đại Việt; ethanol Đắk Tô.
Tổng công suất sản xuất trong nước hiện đạt 32.000m³/tháng. Theo lộ trình phát triển, vào năm 2026 và 2027, dự kiến nguồn cung nội địa sẽ đạt mức 45% nhu cầu phối trộn, từng bước tự chủ nguồn cung năng lượng xanh.
Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu đang bước vào giai đoạn chuyển dịch mạnh mẽ, việc phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ là câu chuyện của ngành xăng dầu, mà còn liên quan tới nông nghiệp, công nghiệp chế biến và cả chiến lược thương mại quốc tế.
Xăng E10 được kỳ vọng sẽ trở thành một mắt xích trong chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng, đồng thời tạo động lực cho quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế xanh và bền vững của Việt Nam.





Bình luận