Cập nhật lúc 04:42 PM ngày 11/06/2026

Khoa học công nghệ - động lực tăng trưởng mới của Việt Nam

(VTC News) -

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực trung tâm, mở ra không gian phát triển mới cho Việt Nam.

Trong nhiều thập kỷ, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa trên ba yếu tố: Khai thác tài nguyên, mở rộng vốn đầu tư và lực lượng lao động dồi dào với chi phí cạnh tranh.

Mô hình này góp phần đưa Việt Nam từ một nền kinh tế thu nhập thấp trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao trong khu vực.

Tuy nhiên, khi dư địa của các động lực truyền thống dần thu hẹp, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đặt ra một bài toán mới. Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng chủ yếu của giai đoạn phát triển mới.

Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong đó lần đầu tiên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là "đột phá chiến lược hàng đầu", giữ vai trò nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững.

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng chủ yếu của giai đoạn phát triển mới. (Ảnh: Hùng Cường)

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực tăng trưởng chủ yếu của giai đoạn phát triển mới. (Ảnh: Hùng Cường)

Tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Trụ cột tăng trưởng mới

Trong nhiều năm, lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ giúp Việt Nam thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất và gia tăng xuất khẩu. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế đều cho rằng mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào mở rộng nguồn lực đang dần bộc lộ những giới hạn.

Tại Hội thảo công bố Báo cáo tư vấn chính sách thường niên 2026 của Trường Đại học Kinh tế (ĐHQGHN) đầu tháng 6, TS Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhận định yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là giải pháp cấp thiết để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030.

Theo các chuyên gia, nếu trước đây tăng trưởng chủ yếu đến từ việc gia tăng vốn đầu tư và lao động, thì trong giai đoạn mới, nguồn lực quyết định sẽ là năng suất. Và năng suất chỉ có thể được cải thiện một cách bền vững thông qua ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Nói cách khác, thay vì tăng trưởng bằng cách sử dụng nhiều tài nguyên hơn, nhiều lao động hơn, nền kinh tế cần tăng trưởng bằng cách tạo ra giá trị lớn hơn từ cùng một lượng nguồn lực.

Một trong những điểm đáng chú ý trong các định hướng phát triển gần đây là sự chuyển dịch rõ rệt từ mô hình tăng trưởng dựa trên tài nguyên sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức.

Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn mà dữ liệu, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và đổi mới sáng tạo trở thành những yếu tố sản xuất mới. Trong mô hình đó, giá trị không còn được tạo ra chủ yếu từ tài nguyên thiên nhiên hay lao động giản đơn, mà từ tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng lực sáng tạo.

Các chuyên gia cho rằng đây là xu hướng mà Việt Nam không thể đứng ngoài. Nếu các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây làm thay đổi công cụ sản xuất, thì cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi cách thức tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì vậy, chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên tri thức không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu.

Việc chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên tri thức là yêu cầu tất yếu. (Ảnh minh họa)

Việc chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên tri thức là yêu cầu tất yếu. (Ảnh minh họa)

PGS.TS Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế (ĐHQGHN), nhận định những nền kinh tế thành công nhất trong nửa thế kỷ qua như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc đều đặt khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển. Điểm chung của các quốc gia này là không xem khoa học công nghệ chỉ là lĩnh vực hỗ trợ, mà là nền tảng tạo ra năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đó cũng là con đường Việt Nam đang hướng tới: đưa khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đổi mới sáng tạo trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi và chuyển đổi số trở thành động lực nâng cao năng suất cho toàn bộ nền kinh tế.

Doanh nghiệp - nơi biến thành tựu KHCN thành giá trị kinh tế cụ thể

Nếu chính sách tạo ra khuôn khổ, thì doanh nghiệp chính là nơi biến các thành tựu khoa học công nghệ thành giá trị kinh tế cụ thể.

Những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã cho thấy xu hướng dịch chuyển từ gia công, lắp ráp sang đầu tư vào các lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và tri thức cao hơn, qua đó từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong lĩnh vực công nghệ số, FPT là một trong những doanh nghiệp sớm đầu tư vào các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và công nghiệp bán dẫn. Năm 2024, doanh nghiệp công bố mục tiêu đào tạo 10.000 kỹ sư bán dẫn đến năm 2030 nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho ngành công nghiệp chip. FPT cũng mở rộng hợp tác với nhiều tập đoàn công nghệ quốc tế trong lĩnh vực AI và bán dẫn, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.

Trong khi đó, Viettel theo đuổi chiến lược làm chủ công nghệ lõi thông qua đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Tập đoàn đã nghiên cứu, sản xuất nhiều thiết bị viễn thông 5G "Make in Vietnam", đồng thời tham gia lĩnh vực bán dẫn với việc thiết kế các dòng chip phục vụ hạ tầng viễn thông, thiết bị IoT và các ứng dụng công nghệ cao. Những bước đi này cho thấy doanh nghiệp Việt đang từng bước chuyển từ vị thế ứng dụng công nghệ sang tự nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ.

Bên trong nhà máy sản xuất ô tô Vinfast. (Ảnh: Vinfast)

Bên trong nhà máy sản xuất ô tô Vinfast. (Ảnh: Vinfast)

Không chỉ trong lĩnh vực công nghệ thông tin, xu hướng đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo cũng đang lan rộng sang lĩnh vực công nghiệp chế tạo. VinFast là một ví dụ tiêu biểu khi lựa chọn phát triển xe điện như một hướng đi chiến lược. Bên cạnh hoạt động sản xuất, doanh nghiệp đầu tư mạnh cho nghiên cứu, phát triển công nghệ pin, phần mềm điều khiển và các tính năng thông minh trên phương tiện.

Việc tham gia vào ngành công nghiệp xe điện, lĩnh vực được xem là một trong những biểu tượng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cho thấy nỗ lực của doanh nghiệp Việt trong việc gia tăng hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng trong sản phẩm.

Điểm chung của các doanh nghiệp này là giá trị tăng trưởng không còn đến từ việc mở rộng quy mô lao động hay khai thác tài nguyên, mà đến từ tri thức, nghiên cứu phát triển, sở hữu công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo. Đây cũng chính là hình ảnh thu nhỏ của quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng mà Việt Nam đang theo đuổi, từ dựa vào các yếu tố đầu vào truyền thống sang dựa vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Tạo hệ sinh thái cho đổi mới sáng tạo

Dù vậy, các chuyên gia cho rằng khoa học công nghệ chỉ có thể trở thành động lực tăng trưởng khi được đặt trong một hệ sinh thái đồng bộ.

Theo TS Nguyễn Đức Hiển, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không thể được thúc đẩy riêng lẻ mà cần có sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học.

Bên cạnh việc tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, điều quan trọng là xây dựng cơ chế để kết quả nghiên cứu có thể đi vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Trong đó, doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo khi vừa là nơi đặt ra nhu cầu công nghệ, vừa là chủ thể thương mại hóa các thành tựu nghiên cứu.

Bộ trưởng KH&CN Vũ Hải Quân. (Ảnh: Bộ KH&CN)

Bộ trưởng KH&CN Vũ Hải Quân. (Ảnh: Bộ KH&CN)

Trong bài phát biểu kỷ niệm Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam 18/5, Bộ trưởng KH&CN Vũ Hải Quân cho biết, để khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển, điều quan trọng là phải khơi thông các nguồn lực trong toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.

Đó là nguồn lực về thể chế, dữ liệu, hạ tầng và hợp tác quốc tế do Nhà nước kiến tạo; nguồn lực trí tuệ của đội ngũ nhà khoa học; nguồn lực đầu tư và năng lực tổ chức của doanh nghiệp; cùng tiềm năng nghiên cứu, đào tạo của các viện nghiên cứu và trường đại học.

Lãnh đạo Bộ KH&CN nhấn mạnh doanh nghiệp phải thực sự trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Ông cho rằng doanh nghiệp muốn phát triển nhanh và bền vững cần đầu tư cho nghiên cứu phát triển, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời mạnh dạn đầu tư cho tri thức, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nếu doanh nghiệp không đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nền kinh tế sẽ tiếp tục ở vị trí gia công và phụ thuộc; nếu các trường đại học và viện nghiên cứu không gắn với nhu cầu thị trường, tri thức sẽ khó chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nghị quyết 57-NQ/TW cũng nêu bật yêu cầu hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn đối với hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.

Đây được xem là những điều kiện nền tảng để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Bình luận
paper plane
vtcnews.vn
Cùng chuyên mục
Tin mới