Lưu Thiện, hay A Đẩu, là con trai ruột duy nhất của Lưu Bị thời Tam quốc. Sau khi Lưu Bị mất, Lưu Thiện kế vị, lấy hiệu là Hán Hoài Đế, lãnh đạo nước Thục trong 41 năm.
Trong suốt thời gian tại vị, Lưu Thiện luôn nhận được sự phò tá của những nhân vật được đánh giá là kiệt xuất và tận trung như Gia Cát Lượng, Triệu Vân, Tưởng Uyển, Khương Duy... Từ tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa tới các tài liệu sử sách mang tính chính thống đều miêu tả Lưu Thiện như một vị vua bất tài, thậm chí có người còn gọi ông là "vị vua ngu dốt, bất tài khiến nước Thục diệt vong".
Tuy nhiên, ngày nay, các nhà sử học Trung Quốc đã đưa ra những đánh giá khách quan hơn về nhân vật này. Tờ Aboluowang thống kê vài giả thuyết để trả lời câu hỏi: Liệu con trai của Lưu Bị có thực sự bất tài như được miêu tả?
Lưu Thiện có thực sự là vị vua bất tài?
Trước tiên, cần phải nhắc lại rằng, Gia Cát Lượng - vị quân sư chính trực, luôn một lòng tận trung với nhà Thục Hán, rất mực yêu quý Lưu Thiện. Theo Tam Quốc chí, trong di chiếu gửi cho Thái tử Lưu Thiện ở Thành Đô, Lưu Bị có nhắc đến nội dung sau: "Nghe Thừa tướng (Gia Cát Lượng) nói, ngươi có khí chất lớn, tiến bộ rất nhanh, vượt quá ước vọng của y...".
Thậm chí có giả thuyết cho rằng, Khổng Minh cố tình khuyên Lưu Bị ban chết cho con trai nuôi Lưu Phong, không chỉ vì những lỗi lầm mà vị tướng trẻ này gặp phải trên chiến trường, mà còn để đảm bảo ngôi vị chủ Thục Hán không bị tranh giành sau khi Lưu Bị qua đời.
Đáp lại, Lưu Thiện cũng một mực cung kính với Gia Cát Lượng. Theo Tam Quốc Chí, trước lúc qua đời, Lưu Bị dặn dò Lưu Thiện tôn kính Thừa tướng như cha mình. Khi Gia Cát Lượng còn sống, Lưu Thiện quả thực đã đối xử với ông như cha ruột, giao phó nhiều việc mà không can thiệp. Điều này không chỉ do Lưu Thiện tuân thủ di ngôn của cha mà quan trọng hơn, nó giúp vị vua mới đăng cơ này duy trì sự đoàn kết trong đội ngũ quan lại, ngăn ngừa sự xung đột nội bộ và đảm bảo sự ổn định về mặt chính trị.
11 năm đầu đăng cơ, Lưu Thiện dựa dẫm chủ yếu vào Gia Cát Lượng. Tuy nhiên, sau khi vị quân sư này qua đời, Lưu Thiện vẫn có thể tiếp tục lãnh đạo nhà Thục Hán yên ổn trong 30 năm mà không xảy ra rối loạn gì lớn. Điều này có thể thấy Lưu Thiện vốn không phải là kẻ hồ đồ. Có người nhận định rằng Lưu Thiện có thể là một "vua giữ thành" tốt. Sau này về già, ông tin cậy hoạn quan Hoàng Hạo mới khiến Thục Hán suy yếu.
Gia Cát Lượng từng khuyên Lưu Bị ban chết cho con trai nuôi là Lưu Phong.
Nhiều nhà phân tích thời Tam quốc cũng tin rằng Lưu Thiện, vị vua bị sách vở coi là vô dụng, thực ra lại khá thông minh. Sau khi Gia Cát Lượng mất, Lưu Thiện lập tức bãi bỏ chế độ Tể tướng, bổ nhiệm một người quản lý hành chính, một người quản lý quân sự, chia đôi quyền lực vốn tập trung trong tay Gia Cát Lượng, cho phép hai bên kiểm soát và cân bằng lẫn nhau.
Chỉ xét riêng việc có thể duy trì đất nước trong khoảng thời gian lâu như vậy mà không có biến động lớn đã đủ để chứng minh, con trai Lưu Bị không hề ngu ngốc, bất tài như một số nhà sử học miêu tả.
Trong tất cả các vị vua của Trung Quốc, vị hoàng đế cuối cùng của Thục Hán có lẽ là người ít sử dụng quyền lực nhất để đối phó với quần thần. Khi Lưu Thiện sa đà vào cuộc sống hưởng lạc, các vị quan đầu triều đệ trình tấu sớ khuyên răn. Ông cũng nghe theo phần nào chứ hoàn toàn không nổi cơn thịnh nộ hay dùng quyền lực để trấn áp.
Gia Cát Lượng và Lưu Thiện trong phim.
Nhìn vào cuối thời Hán, Ngụy, Tấn, chỉ có vài ba vị hoàng đế trị vì tới 30 năm. Còn trong suốt chiều dài lịch sử Trung Quốc, trong số những hoàng đế có thể cai trị trên 40 năm, Lưu Thiện xếp thứ 11.
Bất cứ ai quen thuộc với lịch sử Trung Quốc đều biết rằng, hoàng đế cuối cùng của hầu hết các triều đại đều có đặc điểm là thu thuế dân rất cao, lạm dụng quyền lực, gây chiến tranh liên miên, trong hoàng tộc thì thường xảy ra tình trạng anh em đấu đá giành ngôi vị. Đời sống của người dân trong những giai đoạn này thường rất khốn khổ.
Tuy nhiên, nước Thục dưới thời Lưu Thiện lại rất bình yên. Quần thần không một ai làm trái di ngôn của Lưu Bị, các trọng thần như tướng Triệu Vân, Thừa tướng Gia Cát Lượng đều tuyệt đối trung thành, về phần anh em họ hàng của Lưu Thiện lại càng không có chuyện tạo phản, huynh đệ tương tàn.
Năm 263, khi quân Ngụy tiến về kinh đô với ba đạo quân, Lưu Thiện đầu hàng. Lịch sử đánh giá ông là kẻ hèn nhát, làm ô nhục tổ tiên, nhưng nhìn từ góc độ khác, hành động của vị vua này đã giúp người dân tránh khỏi khổ cực chiến tranh.
Lưu Thiện là con trai của Lưu Bị và được Gia Cát Lượng hết lòng phò tá khi lên ngôi.
Sau khi đầu hàng, Lưu Thiện được đưa về Lạc Dương. Triều đình nhà Ngụy phong cho ông làm An Lạc huyện công. Những người con của Lưu Thiện đều được phong chức tước.
Tướng nhà Nguỵ lúc đó là Tư Mã Chiêu vẫn còn đề phòng Lưu Thiện. Một hôm. Chiêu mời Lưu Thiện đến phủ của mình. Trong buổi tiệc, Tư Mã Chiêu cho cung nữ múa điệu múa nước Thục. Rất nhiều quan lại cũ của nước Thục cảm động bật khóc. Nhân đó, Tư Mã Chiêu hỏi Lưu Thiện có còn nhớ đất Thục không, ông đáp: "Ở đây rất vui. Tôi không còn nhớ gì đến đất Thục nữa".
Khước Chính nghe vậy thì không hài lòng, khuyên Lưu Thiện rằng nếu Tư Mã Chiêu có hỏi lại thì nên nói rằng mồ mả tổ tiên vẫn còn ở Thục nên không ngày nào không nhớ, và cựu hoàng đế Thục Hán đã nói y như vậy khi được hỏi lần nữa. Tư Mã Chiêu bèn bảo: "Sao giống lời Khước Chính thế?". Lưu Thiện thất kinh, thú nhận quả là Phước Chính "gà" cho.
Mọi người xung quanh lúc đó đều chê cười. Đến cả Tư Mã Chiêu vốn đa nghi cũng nghĩ Lưu Thiện quá ngô nghê nên không còn bận tâm tới nữa.
Sau này, một số học giả cho rằng, lời đối đáp như trên của Lưu Thiện không hẳn là do ngô nghê. Đó là cách ông khiến Tư Mã Chiêu nghĩ mình là kẻ nhu nhược, không còn bận tâm đối phó, nhờ thế mà tránh được họa sát thân và diệt tộc.
Sách Tam Quốc tập giải đánh giá cao hành động này: "Những lời đồn đại (về Lưu Thiện) là hoàn toàn sai sự thực. Chẳng qua, A Đẩu tự ẩn mình đi để bảo toàn chính mình trong hoàn cảnh hiểm nghèo mà thôi".
Như vậy, nếu trước đây Lưu Thiện thường bị đánh giá là bất tài, nhu nhược, vô năng thì các sử gia hiện đại lại cho rằng, ông là người biết ẩn mình để sinh tồn và có đủ bản lĩnh nên mới có thể giữ nước Thục tồn tại thêm mấy chục năm giữa bối cảnh loạn lạc thời Tam quốc.


Bình luận