• Zalo

Thiên đường hay địa ngục đều do ta tạo ra

Tổng hợpThứ Sáu, 08/04/2011 02:53:00 +07:00Google News

Vì sao người này là vĩ nhân thánh thiện, kẻ kia lại điêu trá, sát nhân...


    Hẳn có lúc bạn từng đặt câu hỏi: Vì sao người này, mặc dù được sinh ra trong một môi trường phú quý, nhưng bản tính lại ngu dốt; người nọ thì chìm trong cảnh đói nghèo nhưng bản tính lại thông minh; người thì vừa nghèo vừa chậm chạp; kẻ nọ thì vừa nhanh nhẹn lại vừa giàu có. Có người suốt đời làm gì cũng trắc trở; có người làm gì cũng thông suốt. Vì sao người này là vĩ nhân thánh thiện, kẻ kia lại điêu trá, sát nhân. Thậm chí người này nhìn mặt đã có thiện cảm, kẻ kia vừa nhìn thấy đã khó chịu. Thậm chí hai anh em sinh đôi, nhưng cuộc đời mỗi người lại khác nhau…
 

    Tất cả những câu hỏi này thật khó bề lý giải. Tuy nhiên theo đạo Phật thì những sự khác biệt này không những chỉ do di truyền, hoàn cảnh xã hội, môi trường giáo dục, thức ăn, nước uống… mà thâm sâu cốt tủy là do nghiệp lực của mỗi con người. Nói một cách khác, do gia tài chúng ta hưởng thụ từ những nghiệp chúng ta đã tạo ra ở quá khứ và từng giây từng phút trong hiện tại cộng hưởng lại. Chúng ta chịu trách nhiệm đối với hạnh phúc hay khổ đau của chính chúng ta. “Thiên đường” hay “địa ngục” đều do ta tạo ra. Tóm lại, chúng ta là kết tinh của tất cả những nghiệp do chúng ta gây ra. Tạo nhân tốt hưởng quả tốt, gây nhân xấu hưởng quả xấu; tính cách nào thành quả (hay hậu quả) ấy. Nói như vậy để thấy rằng chúng ta có thể thay đổi được cuộc đời chúng ta khi chúng ta thay đổi cách sống, cách nghĩ, cách hành động, thói quen, tính cách và số phận của mình.

    Tào Tháo (trong tuyệt tác “Tam Quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung) là điển hình của kẻ thống trị tàn bạo và giảo quyệt. Châm ngôn của Tào Tháo là “Ta thà phụ người chứ chớ để người phụ ta”. Châm ngôn này chi phối toàn bộ những hành động tội ác của y. Tính cách nổi bật nhất của Tháo là đa nghi. Chả thế mà người đời thường nói “đa nghi như Tào Tháo”. Có lần thất trận, Tào Tháo, trên đường tháo chạy, đã ghé vào nương nhờ một người bạn của cha y là Lã Bá Sa. Lã Bá Sa biết Tháo bị truy đuổi mới hết lòng cưu mang. Một hôm, rạng sáng thức dậy nghe có những tiếng thì thào “Cứ trói lại mà chọc tiết”, Tháo vội vàng bật dậy, rút kiếm giết hết người nhà Lã Bá Sa. Tuy nhiên, khi ra sau nhà mới thấy con lợn bị trói. Thì ra người ta bàn cách mổ lợn để chiêu đãi Tào Táo. Giết người xong Tháo bỏ chạy. Ra tới đầu làng thấy Lã Bá Sa đi mua rượu về để thiết đãi mình. Tới gần Tháo chỉ tay hỏi Bá Sa: “Ai đi sau nhà ngươi đấy?”. Bá Sa quay đầu nhìn lại. Tháo liền rút kiếm giết luôn Lã Bá Sa. Kẻ đi cùng Tào Tháo là Trần Cung hỏi: “Đã lỡ giết cả nhà người ta rồi, sao lại còn giết luôn cả người ta?”. Tháo nói: “Đã nhổ cỏ thì phải nhổ tận gốc!”. Nhưng rồi kết cục thì chính Tào Tháo lại chết vì cái tính đa nghi của mình. Những năm cuối đời, Tào Tháo mắc chứng đau đầu. Tháo cho mời đệ nhất lương y Hoa Đà tới khám bệnh. Hoa Đà bảo: “Bệnh của Chúa công là do khí độc ngấm vào não, phải bổ sọ để lấy khí độc ra mới khỏi được”. Tháo nghi ngờ Hoa Đà có ý hại mình bèn sai giam Hoa Đà vào đại lao và giết Hoa Đà. Sau đó Tào Tháo chết vì căn bệnh đau đầu (mà ngày nay người ta biết đến căn bệnh này là tai biến).

    Lưu Bị, tự là Huyền Đức, được coi là ông vua nhân từ, đạo đức. Cuộc kết nghĩa vườn đào giữa Lưu Bị, Quan Công (tự là Vân Trường) và Trương Phi (tự là Dực Đức) được coi là “bài ca” tuyệt mỹ của tình huynh đệ trong lịch sử Trung Hoa cổ đại. Lưu Bị thường nói: “anh em như chân tay, vợ con như áo mặc. Áo rách còn vá được, chân tay đứt sao nối lại được”. Ông coi trọng tình anh em đến mức lớn hơn cả lợi ích quốc gia. Ông dấy binh đánh Đông Ngô báo thù cho Trương Phi, mặc cho Khổng Minh- Gia Cát Lượng cố khuyên ngăn rằng nước Ngụy mới là giặc đe dọa vận mệnh đất nước, phải đặt  sự an nguy của đất nước lên trên tình riêng. Lưu Bị không nghe. Đấy là lần duy nhất trong cuộc đời trị vì nước Thục mà Lưu Bị không nghe lời Thừa tướng. Lưu Bị kéo quân đi và kết quả là bị một viên tướng thư sinh “miệng còn hơi sữa” là Lục Tốn nước Ngô tiêu diệt. Điểm yếu lớn nhất của Lưu Bị là “tình riêng” và kết quả là ông đã đưa vương triều của mình tới chỗ diệt vong cũng là vì “tình riêng”!

    Đấy là ta đang nói về những người chức cao, vọng trọng có quyền quyết định số vận của mình, nhưng vẫn không vượt qua được nghiệp vận. Tuy nhiên trên đời cũng có không ít những người có tài thao lược, kinh bang tế thế, nhưng rồi kết cục nhiều khi cũng không kém phần bi thảm.  Trong lịch sử nước nhà, đó là trường hợp của Nguyễn Trãi. Tài năng quân sự, văn chương, chính trị và cả những đóng góp của Nguyễn Trãi cho đất nước khỏi phải kể ra thì ai ai cũng rõ.

    Những năm cuối đời Nguyễn Trãi về Côn Sơn vui vầy với cỏ cây hoa lá, bướm ong. Trong “Côn Sơn ca” ông từng khắc khoải: “Về đi sao chẳng sớm toan/ Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?”. Nguyễn Trãi tài năng tuyệt đỉnh bị bọn quyền thần, nịnh thần chèn ép. Có lúc ông tự than: “Dưới công danh đeo khổ nhục” (“Ngôn chi”-2), hoặc: “Được thua phú quý dầu thiên mệnh/ Chen chúc làm chi cho nhọc nhằn” (“Mạn thuật”-5). Người anh hùng thuở “Bình Ngô” đã từng “viết thư thảo giỏi hơn hết mọi thời” thế mà giờ đây tự trách mình “nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi”. Ấy vậy mà mấy năm sau Lê Thái Tôn xuống chiếu vời ông ra làm quan. Trong biểu tạ ân, ông hả hê nói: “Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lòng”, rồi ông tự nhận mình là con ngựa già “còn kham rong ruổi”.

    Có người nói cái bi kịch lớn nhất của cuộc đời Nguyễn Trãi là do ông nhận lời ra làm quan lần thứ hai để dẫn tới thảm kịch “Lệ Chi viên” bị tru di tam tộc, mặc dù, khi về Côn Sơn ông đã nhủ lòng mình: “Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi?”, nhưng cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì nói: “Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá” và đó là nguồn gốc sâu xa bi kịch vô cùng đau thương của người anh hùng thuở “Bình Ngô”.

    Thế mới biết, số phận một con người trong những trường hợp cụ thể còn do sự chi phối của hoàn cảnh xã hội.

    Số phận một đất nước nhiều khi cũng không thoát khỏi cái triết lý nghiệp vận của Phật giáo. Trong thời kỳ hoàng kim của mình, vó ngựa Mông Cổ dưới trướng một danh tướng kiệt xuất- Thành Cát Tư Hãn, đã tung hoành khắp lục địa Á-Âu, giẫm nát không biết bao nhiêu thành quách được coi là “bất khả xâm phạm” của các cường quốc lúc bấy giờ. Diện tích của Đế chế Mông Cổ đạt tới 33 triệu km vuông (gấp đôi nước Nga hiện nay). Tuy nhiên đế chế này chỉ chú trọng đi xâm lược mà không tập trung công sức xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, những nhân tố mang đến sự trường tồn của dân tộc. Vì vậy, sau một thời gian chinh chiến đế chế này lụn bại và cho đến tận ngày nay Mông Cổ vẫn là một trong quốc gia nghèo nhất thế giới.

    Chúng ta ngày nay may mắn được sống trong một đất nước tự do, dân chủ và phồn vinh- một điều kiện tuyệt vời để phát triển nhân cách. Cái còn lại là chúng ta có biết nắm lấy những ưu việt ấy để hoàn thiện và phát triển mình thành người sống có ích cho gia đình và xã hội hay không.

Lê Thọ Bình

Bình luận
vtcnews.vn