Thông tin được đưa ra trong khuôn khổ Hội nghị khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành nông nghiệp - khu vực phía Nam do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tổ chức tại Cần Thơ sáng 2/11. Hội nghị do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Thượng tướng Nguyễn Văn Long, Thứ trưởng Bộ Công an đồng chủ trì.
Hai thế mạnh của miền Tây
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô, sản lượng sang nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh. Trong tiến trình đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò then chốt, tạo nền tảng đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và phát triển các chuỗi giá trị bền vững.
Năm 2025, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 3,78%, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 70,63 tỷ USD. Chín tháng năm 2026, khu vực tiếp tục tăng trưởng 4,02%, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 56,3 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ.
Những kết quả trên khẳng định vai trò và đóng góp quan trọng của ngành đối với nền kinh tế đất nước nhưng cũng đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế và các dư địa tăng trưởng mới. Tại hội nghị, lãnh đạo các tỉnh, thành phía Nam đã đánh giá thực trạng, tiềm năng và dư địa tăng trưởng của ngành, từng vùng, địa phương và chuỗi giá trị nông sản…

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì hội nghị.
Đề cập chuỗi giá trị trong ngành nông nghiệp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử nhấn mạnh đến xuất khẩu tôm. Theo ông Sử, Cà Mau có diện tích nuôi tôm lớn nhất cả nước với khoảng 417.800 ha.
“Hoạt động nuôi tôm đa dạng, gồm các mô hình tôm - rừng, tôm - lúa, quảng canh cải tiến, thâm canh và siêu thâm canh; đồng thời gắn với hệ thống doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản quy mô lớn. Đây là lợi thế quan trọng để tỉnh phát triển chuỗi giá trị tôm theo hướng liên kết từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ”, ông Sử chia sẻ.
Giai đoạn 2026-2030, Cà Mau tập trung tổ chức lại vùng nguyên liệu tôm chất lượng cao theo chuỗi giá trị; rà soát, phân vùng nuôi theo hệ sinh thái, điều kiện hạ tầng và khả năng kiểm soát nguồn nước; ưu tiên phát triển các mô hình tôm - rừng, tôm - lúa, tôm sú có chứng nhận và vùng thâm canh, siêu thâm canh đáp ứng yêu cầu kỹ thuật.
Cà Mau cũng từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm chất lượng cao, sạch bệnh và thích ứng với điều kiện nuôi; tăng cường năng lực xét nghiệm bệnh tôm, quan trắc môi trường và quản trị số vùng nuôi; đổi mới công nghệ nuôi, thúc đẩy chế biến sâu và kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, liên kết thị trường và đổi mới công nghệ chế biến nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử phát biểu tại hội nghị.
Đối với Đồng Tháp, cá tra là một trong những ngành hàng có lợi thế nổi bật để thực hiện chuyển đổi mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng lực cạnh tranh.
Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Phước Thiện, cá tra không chỉ là sản phẩm nông nghiệp chủ lực, mà còn là ngành hàng có chuỗi giá trị tương đối hoàn chỉnh, từ sản xuất giống, nuôi thương phẩm đến chế biến, xuất khẩu và khai thác phụ phẩm.
Hiện, diện tích nuôi cá tra thương phẩm của Đồng Tháp ước đạt 2.820 ha, sản lượng khoảng 700.000 tấn. Tuy nhiên, nhìn từ yêu cầu tăng trưởng mới, lợi thế về sản lượng mới chỉ là điều kiện cần.
Theo ông Thiện, vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào giảm được chi phí sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng, tiếp cận được thị trường tốt hơn và mang lại thu nhập bền vững hơn cho người nuôi. Đây chính là dư địa tăng trưởng cần được khai thác bằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Từ tham luận của lãnh đạo các tỉnh, thành, Hội nghị xác định khu vực phía Nam giữ vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp hàng hóa, xuất khẩu và bảo đảm an ninh lương thực quốc gia; có nhiều lợi thế về điều kiện tự nhiên, vùng nguyên liệu tập trung, hệ thống sản xuất, cơ sở chế biến, hạ tầng logistics và khả năng kết nối thị trường.
Trong đó, 2 chuỗi tôm và cá tra đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 6,84 tỷ USD, chiếm 60,5% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản. Tuy nhiên, tiềm năng và dư địa tăng trưởng của khu vực vẫn chưa được khai thác tương xứng; một số chuỗi sản phẩm còn hạn chế về năng suất, chất lượng, quy mô liên kết, năng lực chế biến sâu, bảo quản và truy xuất nguồn gốc.
Đẩy mạnh chuyển đổi số vào sản xuất nông nghiệp
Đề cập nội dung quan trọng của Hội nghị, lãnh đạo UBND TP Cần Thơ cho biết 9 tháng đầu năm 2026, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,30% so với cùng kỳ. Kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của nông nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ và phát triển bền vững.
Qua quá trình triển khai, Cần Thơ đã đạt được những kết quả bước đầu trong ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất, tiêu thụ nông sản và quản lý Nhà nước về nông nghiệp, thể hiện trên 3 phương diện là ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, từng bước nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế; ứng dụng công nghệ nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc và giá trị thương mại nông sản và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước và giám sát sản xuất.

Cần Thơ đang triển khai Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp.
Theo lãnh đạo UBND TP Cần Thơ, địa phương đẩy mạnh phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các đơn vị chuyên môn trực thuộc Bộ, Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Viện Lúa ĐBSCL, Đại học Cần Thơ… trong nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ và chuyển đổi số vào sản xuất nông nghiệp. Trong đó, chú trọng ứng dụng các nền tảng FarMoRe, Rice Crop Manager (RCM), cảm biến IoT quản lý tưới ngập khô xen kẽ (AWD), nhật ký canh tác điện tử và bản đồ số phục vụ đo đạc, báo cáo giảm phát thải (MRV).
Theo kết quả các mô hình được báo cáo, RCM giúp giảm trên 30% lượng phân đạm, giảm lượng giống gieo sạ xuống khoảng 60 kg/ha, giảm 2-3 lần phun thuốc bảo vệ thực vật, tăng năng suất 0,3-0,7 tấn/ha và tăng lợi nhuận tối thiểu 20% so với canh tác truyền thống.
Đối với Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp, Cần Thơ thúc đẩy cơ giới hóa, xử lý rơm rạ bằng chế phẩm sinh học, tận dụng phụ phẩm sản xuất nấm và phân hữu cơ vi sinh.
Về ứng dụng công nghệ nâng cao chất lượng, truy xuất nguồn gốc, Cần Thơ đẩy mạnh sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn VietGAP, truy xuất nguồn gốc, phát triển sản phẩm OCOP gắn với thương mại số… với 551 mã số vùng trồng tổng diện tích 11.281 ha, góp phần nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu thị trường…







