Cuối tháng Tư, TP.HCM nắng đổ xuống những con đường dài như một thứ ánh sáng đã đi qua nhiều lớp thời gian. Thành phố vẫn đông, vẫn ồn, nhưng ở những khoảnh khắc gần ngày 30/4, luôn có một điều gì đó khiến người ta chậm lại, như thể ký ức không thuộc về quá khứ mà vẫn đang đi xuyên qua hiện tại.
Chúng tôi đến căn nhà trong con hẻm nhỏ của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh vào một buổi chiều như thế. Ông tiếp chúng tôi trong sự chậm rãi quen thuộc của người đã quen sống với ký ức nhiều hơn với sự kiện hiện tại. Trên bàn là những tập hồ sơ buộc dây, giấy đã ố vàng, mép quăn, chữ viết tay có chỗ nhòe đi vì thời gian.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh - Nguyên Phó Tư lệnh Chính trị Quân đoàn 4.
Đưa tay chỉ vào một dòng chữ nhỏ gần như chìm vào nền giấy cũ, ông nói: “Người này… vẫn chưa tìm được".
Không có thêm lời giải thích nào ngay lúc đó. Nhưng chính câu nói ấy kéo toàn bộ câu chuyện quay ngược lại nhiều thập kỷ trước, trở về với những cánh rừng miền Đông Nam Bộ, nơi một người lính trẻ từng bước vào chiến tranh và đi qua nó bằng cả những lần tưởng như không thể trở lại.
Những lần sinh tử trên chiến trường
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh thuộc thế hệ cán bộ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Thời điểm mà chiến trường miền Đông Nam Bộ là một trong những khu vực ác liệt nhất, nơi các đơn vị chủ lực phải cơ động liên tục qua rừng rậm, rừng cao su, địa hình chia cắt, trong điều kiện hậu cần hạn chế và đối phương luôn có ưu thế về hỏa lực.
Ông tham gia nhiều chiến dịch lớn ở khu vực Bù Đăng, Phước Long, Tà Thiết, dọc trục đường 13 - những địa bàn mà chỉ cần nhắc lại tên cũng đủ gợi về một giai đoạn chiến tranh kéo dài và khốc liệt. Trong ký ức của ông, không có một trận đánh nào đứng riêng lẻ, mà là một chuỗi hành quân liên tục, nơi mỗi lần dừng lại đều có thể là một trận chiến mới.
Trận Bù Đăng năm 1966 là một trong những ký ức sâu nhất.

Ở tuổi 87, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh vẫn đau đáu với hành trình đi tìm, đưa đồng đội trở về với đất mẹ.
Khi đó, ông là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141, Sư đoàn 7. Đơn vị của ông khi đó bị phục kích trong rừng sâu. Hỏa lực dồn xuống bất ngờ, đội hình bị chia cắt trong điều kiện tầm nhìn gần như bằng không vì rừng dày và khói đạn. Việc chỉ huy và giữ liên lạc trở nên vô cùng khó khăn khi mọi chuyển động đều bị bóp nghẹt trong không gian chiến trường chật hẹp.
Trong một tình huống giao tranh trực diện, ông bị thương rất nặng. Nhiều vết thương cùng lúc khiến cơ thể gần như không còn khả năng phản ứng. Đồng đội phải đưa ông rút khỏi khu vực chiến đấu trong điều kiện rừng rậm, không có đường cơ động rõ ràng, vừa di chuyển vừa tránh hỏa lực truy kích.
“Lúc đó tôi bị bắn vỡ quai hàm, cơ đùi rách toác, máu ra nhiều lắm. Anh em cõng tôi chạy trong rừng, vừa rút vừa đánh chặn. Tôi mê đi lúc nào không biết...”, ông nhớ lại.
Khi đưa được về phía sau, tình trạng của ông được xác định là rất xấu, chết lâm sàng. Quyết định chôn cất tại chỗ được đưa ra trong hoàn cảnh không còn nhiều lựa chọn. Một cái huyệt đã được đào ngay trong rừng. Ông được đặt xuống, giữa ranh giới mà ở đó sự sống dường như đã bị đóng lại bởi điều kiện chiến tranh.
"Anh em đặt tôi xuống huyệt đào sẵn, lấy võng đắp lên đợi sáng mai sẽ mai táng. May thay, sáng hôm sau, 3 chiến sĩ ra an táng tôi thì một người nhớ chân tôi hình như chưa được mang dép. Chiến sĩ đó nhảy xuống huyệt, sờ chân tôi kiểm tra thì phát hiện chân còn ấm. Vậy là tôi được kéo về từ cõi chết", Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh kể.
Ông dừng một chút, rồi nói chậm hơn: “Người phát hiện chân tôi còn ấm là Tiểu đội phó Bế Ích Quân. Nếu hôm đó anh ấy mệt quá mà không để ý, chắc tôi đã nằm lại từ năm 1966".
Lần đó ông phải điều trị suốt 5 tháng 10 ngày mới bình phục trở về đơn vị tiếp tục chiến đấu.
Sau trận Bù Đăng, ông tiếp tục tham gia nhiều chiến dịch khác ở miền Đông Nam Bộ. Có những giai đoạn đơn vị ông phải bám trụ ở các khu vực chiến lược trên tuyến đường 13, nơi các trận đánh kéo dài nhiều ngày đêm, giao tranh liên tục, vừa giữ chốt vừa cơ động trong điều kiện pháo kích và phục kích diễn ra dày đặc.
Nếu Bù Đăng là lần đầu ông chạm ranh giới sống chết, thì Dầu Tiếng năm 1969 là lần ông hiểu chiến tranh không cho ai đặc quyền sống sót.

Cổ chân bị mảnh bom găm sâu của chiến sĩ trẻ Nguyễn Ngọc Doanh ngày đó, để rồi thương tích theo ông suốt cả cuộc đời.
Ông kể, đó là thời điểm chiến trường Tây Ninh rất nóng. Thiết giáp và bom napalm dội xuống đội hình. Đất đỏ bị cày tung, cây cháy đen, không khí đặc mùi khét của xăng cháy và thuốc súng.
“Bom napalm nó không chỉ giết người bằng lửa. Nó đốt cả tinh thần nếu mình không lì", ông nói.
Trong trận đó, ông lại bị thương, mảnh bom găm vào đầu, ngất trên đường cơ động, phải mổ sống lấy mảnh bom ra. Hai tháng sau, chưa kịp hồi phục hẳn, ông quay lại đơn vị.
Chúng tôi hỏi vì sao quay lại sớm vậy, ông cười rất nhẹ: “Anh em còn ngoài đó". Chỉ năm từ nhưng đủ nói hết tư duy của một thế hệ.
Khi câu chuyện đi tới Tàu Ô, giọng ông khác hẳn. Không còn là ký ức riêng, mà là giọng của người nhắc lại một trận đánh mang tính chiến dịch.
Ông với tay lấy bút, vạch trên tờ giấy một đường thẳng: “Đây là đường 13. Đây là Tàu Ô. Cái cống này, xe tăng nó không vượt dễ được. Mình chọn chốt ở đây không phải ngẫu nhiên. Giữ được đường 13 thì giữ được Lộc Ninh. Mất chốt là đứt thế trận".
150 ngày đêm. Không quân, pháo binh, thiết giáp, bộ binh địch dồn đánh để phá chốt. Còn bộ đội giữ chốt theo đúng phương châm ông nhắc lại nguyên văn: “Chốt cứng. Chặn đứng".
Hơn 150 ngày đêm ấy, Tàu Ô không chỉ là một địa danh mà là lò lửa. Là nơi một thế hệ lính sống bằng ý chí nhiều khi nhiều hơn cả lương thực.
Chiến tranh đi qua ông không phải bằng một sự kiện, mà bằng nhiều lớp trận mạc chồng lên nhau. Nhưng điều ông nhắc lại nhiều nhất không phải những trận đánh ông tham gia, mà là những người không trở về sau các trận đánh đó.
Có những đồng đội nằm lại trong rừng cao su. Có những người mất dấu ở các khu vực hành quân. Có những cái tên không bao giờ được xác định đầy đủ vị trí. Và chính điều đó trở thành phần kéo dài của cuộc đời ông sau chiến tranh.
Đi tìm những người anh em còn nằm lại
Sau năm 1975, chiến tranh kết thúc, nhưng với ông Nguyễn Ngọc Doanh, ký ức chiến trường không dừng lại ở thời điểm đó. Nó chuyển sang một hình thái khác, lặng lẽ hơn, kéo dài hơn và khó nhìn thấy hơn.

Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh trong một lần đi tìm hài cốt liệt sĩ. (Ảnh: NVCC)
Từ những năm 1990, sau khi nghỉ hưu, ông bắt đầu tham gia công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Không có bản đồ hoàn chỉnh, không có dữ liệu đầy đủ, phần lớn hành trình bắt đầu từ ký ức của những người còn sống sót.
Một lời kể của cựu binh về một con suối, một gò đất giữa rừng, một khu vực từng là nơi đơn vị đóng quân... Tất cả đều là những mảnh thông tin rời rạc, được ghép lại qua thời gian, qua nhiều người, qua nhiều lần xác minh.
Có những chuyến đi kéo dài nhiều ngày trong rừng sâu. Có những vị trí phải quay lại nhiều lần trong nhiều năm vì không thể xác định chính xác ngay từ lần đầu. Có những nơi khi đến nơi thì địa hình đã thay đổi hoàn toàn, không còn dấu vết nào của chiến tranh.
Hành trình đi tìm đồng đội của ông không chỉ là những chuyến lội rừng dò từng tọa độ cũ, mà còn là những cuộc gặp gỡ kéo dài, nơi ông chứng kiến một dạng nghị lực khác, âm thầm, bền bỉ và dai dẳng đến ám ảnh của những người ở lại.
Ông nhắc đến nhiều trường hợp, khi kể, giọng chậm lại, như thể mỗi câu chuyện đều mang theo một phần ký ức chưa thể buông xuống.
Đó là người vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Hưởng, quê Nam Định (nay là tỉnh Ninh Bình).
Bà bỏ lại quê nhà, vào Nam thuê một căn phòng nhỏ, sống bằng những công việc làm thuê đủ ăn qua ngày, để tiện bám trụ tìm chồng. Không có bản đồ, không có thông tin rõ ràng, bà đi hỏi từng người, lần tìm từng dấu vết, gặp hết nhân chứng này đến đồng đội khác, mỗi manh mối lại nhen lên một chút hy vọng, rồi lại vụt tắt.
Cuộc tìm kiếm ấy kéo dài không phải vài năm mà là mấy chục năm. “Có lúc tưởng không thể tìm được nữa, nhưng bà ấy không bỏ", ông nói.
Cuối cùng, sau hành trình tưởng như không có điểm dừng, bà cũng tìm được hài cốt chồng. Nhưng khi tìm thấy, bà lại không có tiền để đưa ông về quê.
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh cùng ban liên lạc đã đứng ra hỗ trợ kinh phí, tổ chức đưa hài cốt liệt sĩ Nguyễn Văn Hưởng về Nam Định, rồi sau đó xây một căn nhà tình nghĩa để người vợ có nơi thờ phụng chồng.

Tuổi già của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh là quây quần bên con cháu và dồn tâm sức đi tìm đồng đội.
Một trường hợp khác ông nhắc đến là liệt sĩ Cốt, chính trị viên đại đội.
Người vợ của liệt sĩ Cốt, dù đã đi bước nữa, vẫn không từ bỏ việc tìm kiếm. Bà dành thời gian, công sức, và cả những năm tháng sau này của đời mình để lần tìm dấu vết người chồng đã hy sinh.
Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh đồng hành cùng gia đình liệt sĩ Cốt suốt 12 năm.
Mười hai năm, chỉ để xác định một vị trí. Khi tìm thấy, hài cốt liệt sĩ được chôn trong hòm đạn đại liên bằng kẽm, nhờ vậy vẫn còn nguyên vẹn bộ xương và một số kỷ vật đi kèm - những dấu tích hiếm hoi còn lại sau hàng chục năm chiến tranh.
“Những lần như vậy tôi thấy nhẹ lòng đi một chút", ông nói chậm rãi.
Nhưng cái “nhẹ” ấy không kéo dài lâu, bởi danh sách những người chưa tìm thấy vẫn còn rất dài.
Từ năm 1993, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh bắt đầu hành trình đi tìm đồng đội. Đến nay, hơn 250 hài cốt liệt sĩ đã được ông tìm thấy, trong đó có hơn 50 hài cốt liệt sĩ xác định được danh tính và đưa về an nghỉ ở quê hương.
Trong căn nhà ở TP.HCM, những tập hồ sơ ông giữ không phải tài liệu lưu trữ theo nghĩa thông thường. Đó là danh sách những liệt sĩ chưa tìm thấy, những sơ đồ chiến trường vẽ tay, những ghi chú từ lời kể cựu binh, được ông và đồng đội gom lại trong suốt hàng chục năm.
Mỗi cái tên là một người chưa trở về, mỗi dòng ghi chú là một hành trình còn dang dở.
Ông không nói nhiều về cảm xúc trong những lần tìm được hài cốt, ông chỉ nói đó là việc phải làm. Nhưng phía sau sự giản dị ấy là hàng chục năm đi qua những cánh rừng cũ, quay lại những nơi từng là chiến trường, nơi ký ức và thực địa chồng lên nhau, khiến việc tìm kiếm vừa là công việc, vừa là sự tiếp nối của một lời hẹn.
Nếu ở chiến trường năm 1966, ông từng được kéo lên từ một huyệt mộ dã chiến giữa rừng, thì ở phần đời sau chiến tranh, ông lại đi theo một hành trình ngược lại, đi tìm những người vẫn còn nằm dưới đất, chưa được gọi tên trở về.
Hai nhịp đời đó, khi đặt cạnh nhau, không cần diễn giải thêm vẫn đủ tạo thành chân dung của một người lính đã đi qua chiến tranh không chỉ một lần, mà kéo dài nó sang cả phần đời còn lại của mình. Và có lẽ, đó là cách chiến tranh tiếp tục tồn tại trong ký ức một con người, ngay cả khi lịch sử đã sang trang.



















Bình luận