Liên kết “ba nhà“giữa Nhà nước, trường viện và doanh nghiệp được xem là một trong những yếu tố quan trọng để đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường nhưng thực tế vẫn còn ‘khoảng trống”.
Trao đổi với PV Báo Điện Tử VTC News, ThS. Lê Nhật Quang, Giám đốc Trung tâm Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ĐHQG TP.HCM (IEC), đã phân tích những điểm nghẽn trong liên kết “ba nhà” và cơ chế để các bên cùng tham gia từ khâu xác định bài toán đến phát triển, thương mại hóa sản phẩm.

Khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường
- Từ thực tiễn phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, ông nhìn nhận thế nào về mối liên kết giữa Nhà nước - nhà khoa học/trường viện - doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay, thưa ông?
Mối liên kết “ba nhà” tại Việt Nam đang chuyển từ hợp tác mang tính hình thức, rời rạc hoặc thụ động sang đồng kiến tạo (co-creation) thực chất. Tuy nhiên, hệ sinh thái vẫn còn những khoảng trống và “điểm nghẽn” khiến nguồn lực chưa được tối ưu hóa.
Từ phía trường, viện, hoạt động nghiên cứu trước đây chủ yếu mang tính hàn lâm, sản phẩm đầu ra thường dừng ở các bài báo quốc tế hoặc quy mô phòng thí nghiệm. Chỉ số sẵn sàng công nghệ (TRL) và thương mại hóa (IRL) chưa cao, khiến kết quả nghiên cứu khó vươn ra thị trường.
Doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ lớn nhưng thường tìm kiếm giải pháp có thể ứng dụng ngay, còn e ngại rủi ro và chưa hình thành thói quen “đặt hàng” các vấn đề, bài toán dài hạn cho trường đại học.
Về phía Nhà nước, dù đã có nhiều chính sách thúc đẩy, quy định về quản lý tài sản công, định giá quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế thành lập doanh nghiệp spin-off vẫn còn vướng mắc. Điểm sáng là nhận thức của cả ba bên đã thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt khi Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định 336/QĐ-TTg của Thủ tướng xác định mô hình “ba nhà” là tam giác chiến lược cốt lõi để phát triển kinh tế tri thức.
Cùng kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
- Từ thực trạng đó, ĐHQG TP.HCM đang thay đổi cách tham gia vào liên kết “ba nhà” như thế nào? Những thay đổi này đã tác động ra sao đến hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại ĐHQG TP.HCM, thưa ông?
ĐHQG TP.HCM không chỉ là nơi đào tạo và nghiên cứu mà phải cùng kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. ĐHQG TP.HCM đã ra mắt Hội đồng Cố vấn Chiến lược Đổi mới sáng tạo (SACSTI) và vận hành Trung tâm Đổi mới sáng tạo ĐHQG TP.HCM (VNUHCM Innovation Hub - VIH), làm đầu mối kết nối liên trường, liên ngành và mở rộng hợp tác “ba nhà”.
Đơn vị cũng triển khai các mô hình hợp tác ba bên như ĐHQG TP.HCM - UBND tỉnh Tây Ninh - Công ty Cổ phần Real-Time Robotics (RtR) về phát triển UAV Make in Vietnam và ĐHQG TP.HCM - UBND tỉnh Đồng Tháp - Công ty Vĩnh Hoàn trong nông nghiệp công nghệ cao.

Bên cạnh đó, ĐHQG TP.HCM cũng đổi mới quản trị KH&CN theo Quy định 437/QĐ-ĐHQG, chuyển từ quản lý theo thủ tục sang quản trị theo kết quả, khoán chi và hậu kiểm; thực hiện chính sách nhân lực dùng chung theo Quyết định 829/QĐ-ĐHQG và chương trình VNU MOVE. Từ đó tạo điều kiện điều phối chuyên gia, nhà khoa học, đồng thời giúp giảng viên trải nghiệm thực tiễn và biệt phái có thời hạn tại doanh nghiệp, địa phương.
Sự thay đổi rõ rệt nhất là tư duy của nhà khoa học chuyển từ “nghiên cứu để công bố” sang “nghiên cứu cùng doanh nghiệp/địa phương để tạo ra sản phẩm thương mại hóa”.
Chỉ trong nửa đầu năm 2026, các đơn vị của ĐHQG TP.HCM đã thực hiện 658 hợp đồng chuyển giao công nghệ và dịch vụ kỹ thuật, với tổng doanh thu hơn 115,5 tỷ đồng; hàng trăm nhiệm vụ khoa học được triển khai trực tiếp từ bài toán thực tiễn của doanh nghiệp và địa phương.
- Qua thực tiễn triển khai, theo ông, “ba bên” cần tham gia vào quá trình đổi mới sáng tạo từ khâu nào để chuyển từ hợp tác theo từng đề tài sang cùng xác định bài toán, đặt hàng và phát triển sản phẩm?
Ba bên phải kết nối ngay từ khâu đầu tiên, cùng khai thác các vấn đề cấp thiết và đồng kiến tạo, thay vì mỗi bên thực hiện một phần việc riêng.
Doanh nghiệp và Nhà nước cần cùng góp vốn đối ứng ngay từ đầu cho các đề tài, dự án. Khi doanh nghiệp bỏ tiền vào R&D, họ sẽ chủ động giám sát tiến độ, thử nghiệm và tiếp nhận sản phẩm.

Các nhà nghiên cứu ĐHQG TP.HCM tham gia giải bài toán từ doanh nghiệp. (Ảnh: Ngọc Duy)
Nhà nước cần đóng vai trò “khách hàng đầu tiên” hoặc ban hành cơ chế Sandbox cho phép thử nghiệm các sản phẩm công nghệ mới như UAV, AI y tế, năng lượng xanh, chuyển đổi số tại các đại học và đô thị.
Đồng thời, cần có cơ chế minh bạch về định giá tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách, tỷ lệ chia bản quyền (licensing) và quyền thành lập doanh nghiệp khởi nguồn (Spin-Off). Trung tâm Đổi mới sáng tạo có thể đóng vai trò “cổng một cửa”, tiếp nhận bài toán, sàng lọc và ghép nối với nhóm nghiên cứu, quỹ đầu tư.
- Vậy để những cơ chế này có thể vận hành trên thực tế, hệ thống chính sách hiện nay còn vướng ở đâu, thưa ông?
Hệ thống cơ chế, chính sách đã có bước tiến lớn nhưng vẫn chưa hoàn toàn đủ và đồng bộ để tạo ra liên kết bền vững.
Vướng mắc lớn là chưa có hướng dẫn chi tiết để trường đại học công lập và nhà khoa học sử dụng tài sản trí tuệ, cơ sở vật chất hoặc thương hiệu góp vốn thành lập doanh nghiệp spin-off. Đồng thời, chưa có cơ chế tài chính, quỹ đầu tư mạo hiểm đặc thù chấp nhận rủi ro ở giai đoạn thử nghiệm mẫu.
Bên cạnh đó, quy định mở ngành và chỉ tiêu tuyển sinh các ngành công nghệ chiến lược vẫn nặng về tiêu chuẩn giảng viên cơ hữu, chưa thực sự cởi mở với đội ngũ chuyên gia, doanh nhân từ doanh nghiệp.
Các dự án đầu tư phòng thí nghiệm dùng chung và hạ tầng R&D trọng điểm vẫn chịu quy trình nhiều bước của Luật Đầu tư công, tốn thời gian và chưa theo kịp tốc độ thay đổi của công nghệ.
Quản lý theo chuỗi nhiệm vụ KHCN
- Khi các “nút thắt” này được tháo gỡ và Việt Nam chuyển trọng tâm sang phát triển các công nghệ chiến lược, theo ông mô hình liên kết “ba nhà” cần tiếp tục thay đổi như thế nào?
Cách làm theo kiểu “mỗi thầy một đề tài nhỏ lẻ”, quản lý theo chứng từ hóa đơn truyền thống đã không còn phù hợp khi bước vào cuộc đua công nghệ chiến lược như Vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, Công nghệ sinh học thế hệ mới, UAV, Lượng tử hay Net-Zero.
Mô hình liên kết “ba nhà” cần chuyển sang quản lý theo Cụm/Chuỗi nhiệm vụ KHCN chiến lược, tập trung nguồn lực giải quyết các vấn đề lớn của quốc gia và vùng, đánh giá theo sản phẩm ứng dụng Make in Vietnam và khả năng làm chủ công nghệ lõi.
Song song đó là phát triển các “Viện đồng sáng tạo”, Trung tâm Xuất sắc, kết nối liên trường, liên ngành và mạng lưới chuyên gia toàn cầu để chia sẻ hạ tầng phòng thí nghiệm trọng điểm cấp quốc gia.

Các doanh nghiệp, chuyên gia,... tham quan các trung tâm nghiên cứu tại Trường Đại học Quốc tế Miền Đông, tăng cường liên kết “ba nhà”. (Ảnh: Ngọc Duy)
Đổi mới sáng tạo đại học cũng cần chuyển từ chỉ chuyển giao công nghệ (licensing) sang mô hình “Xưởng sản sinh spin-off” & Quỹ đầu tư, trong đó trường đại học cùng các quỹ đầu tư mạo hiểm (VCs) ươm tạo, đóng gói và thành lập các doanh nghiệp spin-off/startup công nghệ sâu (deep-tech) có khả năng định giá hàng trăm triệu USD.
- Vậy đâu là những điều kiện nền tảng để liên kết “ba nhà” không dừng ở các thỏa thuận hợp tác mà thực sự tạo ra sản phẩm và doanh nghiệp công nghệ trên thị trường, thưa ông?
Để liên kết “ba nhà” thực sự tạo ra sản phẩm thương mại hóa trên thị trường, cần 4 điều kiện nền tảng.
Thứ nhất, thể chế đột phá và chấp nhận rủi ro, trong đó Nhà nước trao quyền tự chủ cao hơn cho các trường đại học, giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ và áp dụng cơ chế khoán chi theo sản phẩm.
Thứ hai, nguồn vốn mồi và quỹ mạo hiểm, kết hợp ngân sách Nhà nước như các Đề án 336, 3789 với quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân để đồng tài trợ cho các dự án công nghệ vượt qua “Thung lũng chết”.
Thứ ba, văn hóa đổi mới sáng tạo và con người, xây dựng đội ngũ nhà khoa học có tư duy thị trường, thu hút nhà khoa học xuất sắc và hình thành văn hóa chấp nhận rủi ro.
Thứ tư, hạ tầng khoa học, công nghệ dùng chung, gồm hệ thống Phòng thí nghiệm trọng điểm, Trung tâm tính toán hiệu năng cao (HPC), phòng thí nghiệm quy mô nhỏ (FabLab) để các bên cùng khai thác, giảm chi phí đầu tư trùng lặp.
Xin cảm ơn ông!





