Theo danh mục được Chính phủ ban hành, Việt Nam xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược, trải rộng từ công nghệ số, mạng di động thế hệ sau, robot và tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng và vật liệu tiên tiến đến chip bán dẫn, lượng tử, hàng không và vũ trụ.
Đầu tháng 8, Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược được phê duyệt. Theo đó, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ tối thiểu 4 công nghệ chiến lược, phát triển và thương mại hóa ít nhất 15 sản phẩm, hình thành tối thiểu 20 doanh nghiệp làm chủ công nghệ và sản phẩm chiến lược.
Các mục tiêu này cho thấy trọng tâm không chỉ nằm ở nghiên cứu, mà hướng tới khả năng làm chủ công nghệ, hình thành sản phẩm và đưa kết quả ra thị trường.
Từ nghiên cứu đến làm chủ công nghệ
Bán dẫn là một trong những lĩnh vực thể hiện rõ yêu cầu trên. Việt Nam hiện có hơn 50 doanh nghiệp thiết kế chip với khoảng 7.000 kỹ sư, song để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, năng lực thiết kế cần được nối với các khâu sản xuất thử, đóng gói, kiểm thử và hoàn thiện sản phẩm.

Nhà khoa học nghiên cứu làm chủ quy trình chế tạo chip bán dẫn cơ bản tại Viện Công nghệ Vật liệu Tiên tiến - ĐHQG TP.HCM.
Cuối tháng 6, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) ra mắt Trung tâm Quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, cung cấp hạ tầng dùng chung cho các hoạt động này. Việc hình thành trung tâm giúp các nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp có thêm điều kiện đưa thiết kế từ phòng nghiên cứu tiến gần hơn tới sản xuất thực tế.
Thiết bị bay không người lái (UAV) là một ví dụ khác. Theo Bộ KH&CN, doanh nghiệp trong nước đã làm chủ khoảng 70% công nghệ lõi UAV. Lộ trình đặt ra là tiếp tục làm chủ các công nghệ từ khung thân vỏ, hệ động lực, pin, điện - điện tử, tự động lái, truyền dữ liệu đến trạm điều khiển, camera và phần mềm tích hợp.
Chia sẻ với Báo điện tử VTC News, GS.TSKH Vũ Minh Giang, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo - Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng muốn xây dựng năng lực tự chủ về khoa học công nghệ và tạo ra các đột phá phát triển, Việt Nam cần một nền khoa học cơ bản đủ mạnh.
“Công nghệ lõi, công nghệ nguồn không thể có được nếu không có khoa học cơ bản”, ông Giang nói, cho rằng một quốc gia có thể tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài, nhưng nếu không làm chủ nền tảng khoa học phía sau thì vẫn ở thế đi sau khi công nghệ lõi thay đổi.
Quan điểm này cũng phù hợp với định hướng Bộ KH&CN đang đặt ra. Tại Lễ chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam và Hội nghị triển khai công nghệ chiến lược năm nay, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nhấn mạnh công nghệ ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh, vị thế và mức độ tự chủ của mỗi quốc gia, trong bối cảnh AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn, năng lượng mới và lượng tử đang làm thay đổi cấu trúc kinh tế toàn cầu.
Nghiên cứu phải đi tới sản phẩm
Chương trình công nghệ chiến lược đặt yêu cầu liên kết Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học xuyên suốt từ xác định nhu cầu, nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm đến sản xuất và thương mại hóa.
Doanh nghiệp được xác định giữ vai trò trung tâm trong phát triển công nghệ chiến lược, trong khi viện nghiên cứu, trường đại học là lực lượng nòng cốt về nghiên cứu, chuyển giao và đào tạo nhân lực.
Cách tiếp cận này nhằm rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm tới thị trường. Việc Bộ KH&CN xây dựng hạ tầng sản xuất thử chip nhằm tạo hệ sinh thái dùng chung cho nhà khoa học và doanh nghiệp thay vì phải tự đầu tư toàn bộ hệ thống có chi phí lớn.
Theo Bộ trưởng Vũ Hải Quân, để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực phát triển, cần khơi thông nguồn lực trí tuệ của nhà khoa học, năng lực đầu tư của doanh nghiệp, tiềm năng của viện, trường cùng nguồn lực về thể chế, dữ liệu, hạ tầng và hợp tác quốc tế.

Bộ trưởng KH&CN Vũ Hải Quân phát biểu tại lễ ra mắt Trung tâm Quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn. (Ảnh: VGP)
Tạo nền tảng cho những ngành kinh tế mới
Tác động của công nghệ chiến lược không chỉ nằm ở sản phẩm trực tiếp được tạo ra. Sự phát triển của bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu hay sản xuất công nghệ cao đồng thời kéo theo nhu cầu lớn về năng lượng, vật liệu, cơ khí chính xác và tự động hóa.
Trong đó, điện hạt nhân được xác định vai trò quan trọng. Theo ông Lê Việt Cường, Phó Viện trưởng Năng lượng Việt Nam, điện hạt nhân có thể cung cấp nguồn điện nền công suất lớn, ổn định, phục vụ trung tâm dữ liệu, hệ thống AI và các nhà máy công nghệ cao.
Ông cho rằng điện hạt nhân không chỉ là nguồn cung cấp điện mà còn là hạ tầng chiến lược để thu hút đầu tư và phát triển kinh tế. Quá trình phát triển lĩnh vực này có thể thúc đẩy các ngành cơ khí chính xác, vật liệu, hệ thống điều khiển, tự động hóa, đồng thời hỗ trợ sản xuất hydro và các ngành công nghiệp phát thải carbon thấp.
“Phát triển điện hạt nhân và năng lượng tiên tiến không chỉ là giải pháp năng lượng mà còn là lựa chọn chiến lược dài hạn nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và phục vụ phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn”, ông Cường nói.
Công nghệ mới cần nhân lực mới
Cùng với nguồn lực tài chính và hạ tầng nghiên cứu, nhân lực là một trong những yếu tố quyết định khả năng phát triển và làm chủ công nghệ chiến lược.
Những lĩnh vực như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, UAV, công nghệ lượng tử hay năng lượng hạt nhân đều đòi hỏi đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư và chuyên gia có trình độ cao, được đào tạo và tích lũy năng lực trong thời gian dài.

Sản phẩm UAV do doanh nghiệp Việt nghiên cứu và phát triển.
Theo GS.TSKH Vũ Minh Giang, lợi thế của Việt Nam là đã sớm hình thành lực lượng nghiên cứu khoa học cơ bản được đào tạo bài bản. Nhiều thế hệ cán bộ từng được đào tạo tại các trung tâm khoa học mạnh trên thế giới, tạo nền tảng cho sự phát triển của khoa học và công nghệ trong nước.
Tuy nhiên, duy trì và phát triển đội ngũ nghiên cứu đang là một bài toán lớn. GS Giang cho rằng Việt Nam không thiếu nhân tài khoa học công nghệ, nhiều học sinh đạt thành tích cao tại các kỳ thi quốc gia và quốc tế. Nhưng khi bước vào đại học, phần lớn lại lựa chọn những ngành phổ biến có cơ hội việc làm và thu nhập tốt hơn.
Theo ông, đây là một trong những nguyên nhân khiến Việt Nam chưa hình thành được đội ngũ khoa học cơ bản đủ mạnh để tạo ra những đột phá dài hạn.
“Đào tạo những người thành tài trong lĩnh vực khoa học cơ bản là trách nhiệm quốc gia chứ không phải trách nhiệm của thị trường”, GS Giang nói. Theo ông, cần có những cơ chế đặc biệt để người có tài năng và đam mê nghiên cứu có thể yên tâm theo đuổi con đường khoa học.
Trong sự kiện trao Học bỏng Vallet tại Hà Nội ngày 23/8, Bộ trưởng KH&CN Vũ Hải Quân gửi gắm thông điệp đến thế hệ học sinh, sinh viên rằng việc học và nghiên cứu không chỉ để đạt thành tích cao hay một bài báo mà cần hướng tới hiểu thế giới, giải quyết những vấn đề của đất nước, “sáng tạo để tạo ra những giá trị chưa tồn tại trước đó”.
“Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Đất nước đang cần những người trẻ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có khát vọng phụng sự”, lãnh đạo Bộ KH&CN nói.
Đầu tháng 8, khi tham vấn xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển nghiên cứu khoa học cơ bản đến năm 2045, Bộ trưởng Vũ Hải Quân yêu cầu các chương trình nghiên cứu khoa học cơ bản phải gắn với phát triển công nghệ chiến lược quốc gia và được triển khai theo định hướng dài hạn, chu kỳ 5 - 10 năm.
Theo Bộ trưởng, việc duy trì chương trình nghiên cứu liên tục là điều kiện để các nhóm khoa học phát triển, tích lũy năng lực và hướng tới những công nghệ mà Việt Nam cần làm chủ.





