Xuất bản ngày 19/12/2012 08:28 AM

BTV Đình Khôi: Lặng yên viết, thì thầm kể...

Con người Khôi cũng giống như những bộ phim của anh. Kiệm lời nhưng sâu sắc...

Con người Khôi cũng giống như những bộ phim của anh. Kiệm lời nhưng sâu sắc. chàng trai sống ở ngoại vi thành phố này toát lên nét nông dân và quê mùa. Có lẽ, đó là điều giúp Khôi cảm thấy luôn có sợi dây gắn bó vô hình với những vùng quê nghèo, những con người lam lũ nơi những miền đất anh đi qua…

Món nợ” vớinhững miền quê

Tốt nghiệp khoa Văn của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chàng trai sinh năm 1984 Đình Khôi vẫn luôn nghĩ cuộc đời mình sẽ gắn bó với nghiệp nghiên cứu văn chương. Con đường đó càng dần rõ nét khi anh bắt đầu đi thực tập ở Viện Văn học và quen dần với công việc điểm sách, viết lời bình cho các nhà xuất bản. Cứ tưởng thế là yên, là miệt mài những ngày tháng với nghiệp viết lách. Nhưng rồi một ngày đẹp trời, Khôi quyết định đi học thêm một khóa học về biên kịch điện ảnh, mục đích ban đầu cũng là để biết cách xem một bộ phim. Mọi người trong gia đình đều ngạc nhiên bởi gia đình không hề có ai làm về phim ảnh, nghệ thuật. Bố mẹ từ lâu vẫn mong muốn cậu con trai  sẽ trở thành một thầy giáo dạy văn. 

 
Trải qua khóa học ở Dự án điện ảnh (2007 – 2008) của quỹ Ford, Khôi bắt đầu biết đến nghệ thuật điện ảnh, lịch sử điện ảnh, học cách viết kịch bản và mượn máy quay du lịch, máy ảnh để bắt đầu quay những hình ảnh cuộc sống đời thường xung quanh mình. Từ cảnh những con bò đi qua một khu chung cư mới xây dựng, đến cảnh những đứa trẻ khiếm thị kể cho nhau nghe câu chuyện về một cơn mưa. Đó là những bài học vỡ lòng về cách thể hiện cách mình nhìn nhận về cuộc sống. Cùng với những khóa học ngắn hạn tiếp theo của Hội Đồng Anh, Viện Goethe và tham gia vào các dự án làm phim ngắn của bạn bè, anh hiểu hơn về cách làm phim, cách kể một câu chuyện bằng hình ảnh, hiểu về sức mạnh của máy quay và một ý tưởng.

Kết thúc khóa học, Khôi xin vào một công ty truyền thông trong lúc ấp ủ kế hoạch quay bộ phim ngắn đầu tay “Mùa đom đóm bay”. Ngoài ra, anh cũng cộng tác   viết kịch bản những tiểu phẩm  cho một số kênh truyền hình. Một năm sau, Khôi nghe tin VTC14 tuyển người. Lúc đó, kênh mới được thành lập, hoàn toàn mới mẻ, và Khôi cũng chưa hề có một hình dung nào rõ ràng về công việc của phóng viên truyền hình. Anh chỉ nghĩ rằng, làm phóng viên môi trường và khí hậu thì chắc sẽ được đi nhiều, sẽ có nhiều vốn sống. Mà đó là điều anh cần nhất lúc này.

Trúng tuyển vào kênh, và sau một clip ngắn “đập đầu vào tường” khá lạ, Khôi được  giao cho công việc đồng sản xuất chương trình “Nhà mát”, một chương trình kiến trúc cần nhiều yếu tố về dàn dựng hình ảnh, xoay xở trong một không gian sống hạn hẹp, như thói quen của người Việt. Bộ phim tài liệu đầu tiên đến với Khôi cũng rất ngẫu nhiên. Khi ê-kip “Nhà mát” có kế hoạch đi quay ở Hà Giang thì lãnh đạo kênh gợi ý Khôi thử làm một phim tài liệu về cao nguyên đá Đồng Văn. Sau một năm  làm tạp chí chuyên đề, giờ được thử sức với phim tài liệu nên Khôi hăm hở nhận lời ngay. “Đó cũng là bộ phim mà mình thích nhất vì nó được làm khá bản năng và đầy cảm xúc”- Khôi chia sẻ. Cảm xúc nhiều đến nỗi anh phải mất một tuần để… ngẫm, mà không thể viết nên lời, dù đã xong phần dựng hình.

 
Đúng 26 Tết, sau một đêm ngủ lại Đài, phần lời bình của phim đã được hoàn thành Phim phát vào  tối mùng một Tết. Mọi người rất ấn tượng và thích thú với những hình ảnh và lời bình của phim, đặc biệt là câu “làm thằng con trai H’Mông mà bị câm, không lấy được vợ thì buồn như thân ngô đã bẻ bắp rồi”. Bản thân Khôi cũng cảm thấy mình đã “trả nợ” xong xuôi tất cả những trăn trở, cảm xúc và nỗi ám ảnh về cuộc sống của người H’Mông giữa một thung lũng đá qua bộ phim Đá, nước, mặt trời và những bông hoa cúc dại. Và anh cũng tự nhủ nếu sau này, không nghĩ ra một câu chuyện khác về người H’Mông thì anh sẽ không bao giờ làm phim về họ nữa.

Có những lúc, Khôi cảm thấy “mắc nợ” với một vùng đất nào đó, và anh luôn tìm cách để trở lại. Hồi học đại học, Khôi cùng các bạn đi tình nguyện ở Hòa Bình. Sống ở đấy 15 ngày, Khôi vô tình phát hiện ra một hang động rất đẹp và hầu như ít người biết đến, bởi để đi sâu vào hang, nơi có hồ nước trong xanh như ngọc thì phải chui qua một  cửa hang rất bé. Vẻ đẹp độc đáo của hang động ấy cứ ám ảnh anh mãi. Để rồi một ngày, Khôi quyết định quay trở lại làm chương trình. Và tất nhiên, anh không quên chọn một quay phim nhỏ nhắn nhất kênh để có thể chui vào hang. Với Khôi, đó là một sự trở lại đầy niềm vui với  những vùng đất mình đã đi qua.

Chuyến đi Trường Sa dù rất ngắn ngủi nhưng là trải nghiệm mang lại cho Khôi nhiều cảm xúc khó tả nhất. Lần đầu được đặt chân ra đảo, thỏa nguyện ước mong bấy lâu nhưng Khôi và ê-kip chỉ có 26 tiếng (kể cả ăn và ngủ) để làm một bộ phim tài liệu bằng công nghệ truyền hình 3 chiều 3DTV dài 15 phút. Thời tiết ngoài đảo xa dường như không hiểu lòng người, cứ mưa gió liên miên nên hầu như ghi hình được rất ít. Những ý tưởng, những hình dung của Khôi trước khi ra đảo đều thất bại. Nhưng đây cũng chính là thử thách mà người làm phim tài liệu cần vượt qua. Cần ghi lại một cách trung thực nhất cuộc sống của một vùng đất, qua một câu chuyện rõ ràng cụ thể. Kết thúc cảnh quay cuối cùng trên đảo, Khôi cũng chỉ kịp xin được một trái bàng vuông mang về đất liền. Tự sâu thăm trong lòng,  anh biết chắc, sẽ có ngày mình phải trở lại nơi này.

 

“Mỗi thước phim là một câu chuyện ở thì hiện tại…”

Với Khôi, mỗi một tác phẩm phải là một câu chuyện nào đó về cuộc sống con người, hoặc thế giới tự nhiên với những hồn vía của nó. Khôi thường giữ thói quen tóm tắt ý tưởng làm phim của mình trong một câu, và bao giờ tìm ra được một điều gì mới lạ thì mới bắt tay vào làm.  Điều mới lạ này có thể đến từ một câu chuyện, một số phận đặc biệt, cũng có thể là đền từ ngôn ngữ riêng của phim, giống như đã là kể một câu chuyện thì phải có giọng điệu riêng của nó.

Trong tất cả những bộ phim của Khôi, con người đều đóng vai trò chủ thể. Họ bươn chải, vất vả với lo toan cuộc sống, phải đối mặt với những vấn đề riêng của họ, mệt nhoài nhưng đầy tình yêu  cuộc sống. Họ là những người dân ở ngôi làng bị cát bay, cát lấp ở Quảng Bình. Họ còn là những em học sinh nghèo ở vịnh Hạ Long , hàng ngày phải chèo thuyền để đến lớp học nổi trên biển. Rồi những bản làng mà mỗi mùa mưa, công việc tốn nhiều sức lực nhất là phải liên tục dựng đi dựng lại cây cầu luồng   bắc qua sông. Cuộc sống mưu sinh vất vả nhưng đẹp đẽ của những con người gian khó . Và Đình Khôi muốn diễn tả đầy đủ bản chất dữ dội ấy trong những thước phim của mình.

Xuất thân là dân văn chương, ngôn ngữ phong phú, dồi dào nhưng Khôi không hề “mắc bệnh” nhiều chữ, trái lại, phim của anh thường ít lời bình và hình ảnh rất “đắt”. Anh cũng không “tra tấn” khán giả bằng những đoạn đối thoại, phỏng vấn triền miên, không đầu không cuối để kéo cho kỳ được 30 phút phim đủ đạt yêu cầu phát sóng. Anh cố gắng thuyết phục mọi người bằng hình ảnh. Khôi thích để những hình ảnh, hành động, âm thanh đối lập đối với nhau và đi vào chi tiết. Khôi vẫn đang ấp ủ làm một bộ phim tài liệu mà không cần bất cứ lời bình nào.

 
Trong những bộ phim của Khôi có nhiều cảnh cận, đặc tả và hầu như không có những cảnh dàn dựng, hồi tưởng quá khứ cho dù nhân vật có những đoạn kể về quá khứ. “Hoàn toàn có thể thay thế chúng bằng những vật kỷ niệm có dấu ấn thời gian hoặc những thủ pháp khác. Mình luôn nghĩ, phim tài liệu là câu chuyện được viết ở thì hiện tại”- BTV Đình Khôi chia sẻ.

Một nguyên tắc của Khôi khi đi làm chương trình là không được hoang phí sự sáng tạo của quay phim và sự khác biệt đôi khi được tạo ra bởi vị trí đặt máy. Khôi biết cách “tiếp lửa” để quay phim cũng muốn “cháy” với ý tưởng của mình. Không hấp tấp, vội vàng để lấy cho đủ hình, họ cùng nhau bàn bạc kỹ lưỡng để mỗi cảnh quay đều giá trị và không bỏ phí bất cứ khuôn hình nào.

Đặc biệt, với những bộ phim dành cho “Thiên nhiên Việt Nam”, Khôi luôn đánh giá cao tiêu chí phải đẹp về màu sắc và hình ảnh. Anh và quay phim cùng bàn bạc để có nhiều cú máy động trong điều kiện thiết bị ít ỏi, cố gắng có những cảnh quay chi tiết, thậm chí có những khi phải “ngồi rình” những sinh vật trong tự nhiên.

Đã làm một vài phim tài liệu mà lúc buồn chán có thể lôi ra xem để tiếp lửa cho mình, nhưng Đình Khôi vẫn luôn cảm thấy hành trình của mình vừa mới chỉ bắt đầu, giống như những cảnh quay đầu tiên, những câu chuyện đầu tiên còn hỗn độn của người mới vào nghề. Vẫn còn phải thêm nhiều thứ vào ba lô. Vì thế, anh luôn cố gắng để có những chuyến đi, những trải nghiệm mớiKhi rảnh rỗi, Khôi thường đọc sáchAnh cũng không phủ nhận rất nhiều thứ mình có được đều qua những trang sách.

 
Từ khi về kênh VTC14, công việc nhiều hơn nhưng Khôi vẫn cố gắng duy trì thói quen này. Thỉnh thoảng, anh lại rủ bà xã đi xem phim. Nhưng không phải là các rạp chiếu phim đông đúc, mà là các trung tâm văn hóa L’espace hay viện Goethe, đó là thói quen khó bỏ từ hồi còn học ở dự án Điện ảnh. Ở đó, anh tìm thấy sự đồng cảm, thích thú với những thước phim chân thực, gần gũi với đời sống, nơi anh nghĩ có thể tìm thấy cảm giác choáng váng và hoang mang khi xem một bộ phim.

Phim tài liệu mang tên “Sống sát đường ray” được Khôi sản xuất vào năm 2011 đã trở thành một trong ba phim tài liệu  được kênh truyền hình BBC World News chọn phát sóng trong loạt series phim mang tên My Country Vietnam–  Việt Nam - Đất nước tôi, một sự án chiếu những bộ phim tài liệu nói về sự thay đổi, những biến chuyển trong đời sống của một đất nước. 

“Sống sát đường ray” là câu chuyện thường nhật của những hộ dân (vốn là công nhân của ngành đường sắt) sống dọc đoạn đường sắt trong nội đô, phải cơi nới những ngôi nhà của mình ra sát đường ray do nhu cầu sinh hoạt. Có những gia đình sống quá chật chội đến mức không còn đủ chỗ để treo những tấm bằng khen, trong khi những dự án di dời thì mãi vẫn không được thực hiện. Khôi mất  3 ngày chỉ để… ngồi uống trà đá nói chuyện và tiếp cận các nhân vật. Dành thêm 4 ngày nữa để viết kịch bản, 5 ngày quay và 4 ngày làm hậu kỳ. Khoảng thời gian không nhiều, nhưng bộ phim cũng đã ngốn khá nhiều sức lực của ê kíp với một kinh phí khá hạn hẹp của việc làm phim tài liệu truyền hình.

Với Khôi, đây là một thử nghiệm về tiết tấu của phim, của việc tạo ra những hình ảnh đối lập. Những cảnh đoàn tàu di chuyển trong không gian chật hẹp, xen giữa  âm thanh cuộc sống,  sinh hoạt của người dân. Hay những trường đoạn cuộc sống yên bình kết hợp với những cảnh đoàn tàu chạy gào thét chạy qua khiến cho người ta không khỏi… dựng tóc gáy. Những hình ảnh đối lập, song song tạo nên nỗi sợ hãi vô hình cho người xem.

Đam mê làm phim, đặc biệt là phim tài liệu, Khôi hiểu rõ con đường mình đang đi sẽ có những thách thức gì. Anh bảo, cái khó nhất khi làm phim tài liệu là làm sao tìm ra những góc nhìn mới mẻ, tìm những vấn đề mà chưa ai đề cập đến. Điều này là thật khó, nhưng cũng có nhiều chất liệu khi hàng ngày chúng ta phải đối diện với rất nhiều những vấn đề của cuộc sống.

Hương Bình

Bình luận
paper plane
vtcnews.vn
Cùng chuyên mục
Gần 3,6 tỷ đồng đến với các nạn nhân chất độc da cam

Gần 3,6 tỷ đồng đến với các nạn nhân chất độc da cam

Chương trình "55 ngày nhắn tin vì nạn nhân da cam" do Hội nạn nhân chất độc Da cam/ dioxin Việt Nam phối hợp với Cổng 1400 thực hiện đã kết thúc với 198,889 lượt tin nhắn, tương đương với 3,580,002,000 đồng đến với các nạn nhân da cam.

Tin mới