Xuất bản ngày 04/10/2026 07:17 PM

Ứng dụng công nghệ enzyme và lồng nhựa HDPE trong sản xuất thủy sản Vân Đồn

(VTC News) -

Ứng dụng công nghệ enzym trong sản xuất chả mực ở Vân Đồn (Quảng Ninh) là một trong 2 dự án đang được Trung tâm Khuyến nông Quốc gia chuyển giao.

Ngày 3/10, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức đợt khảo sát, kiểm tra thực tế tại 2 dự án ứng dụng công nghệ enzym trong sản xuất, chế biến một số sản phẩm từ mực gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm và Dự án xây dựng mô hình nuôi cá song (mú trân châu) bằng lồng HDPE trên biển gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại Đặc khu Vân Đồn, TP Quảng Ninh.

Đoàn khảo sát nghe giới thiệu về quá trình ứng dụng công nghệ enzym trong sản xuất, chế biến một số sản phẩm từ mực.

Đoàn khảo sát nghe giới thiệu về quá trình ứng dụng công nghệ enzym trong sản xuất, chế biến một số sản phẩm từ mực.

Tại cơ sở sản xuất của Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn (Quảng Ninh), các đại biểu được trực tiếp tham quan, khảo sát quy trình sản xuất các sản phẩm chả mực, ruốc tôm, ruốc bề bề, sản phẩm từ sá sùng và các loại hải sản khác, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ enzym trong sản xuất, chế biến một số sản phẩm từ mực.

Trong tháng 8 và tháng 9/2026, Công ty Thanh Tùng Vân Đồn đã sản xuất khoảng 600kg chả mực bằng công nghệ enzym được chuyển giao; sản phẩm hiện được tiêu thụ tại nhà hàng của Công ty, đồng thời doanh nghiệp đang hoàn thiện hồ sơ công bố sản phẩm để chuẩn bị mở rộng thị trường.

Ứng dụng công nghệ enzyme và lồng nhựa HDPE trong sản xuất thủy sản Vân Đồn - 2
Ứng dụng công nghệ enzyme và lồng nhựa HDPE trong sản xuất thủy sản Vân Đồn - 3

Đoàn khảo sát kiểm tra sản phẩm chả mực sau chế biến.

Công ty có cơ sở sản xuất và kênh tiêu thụ tại Nhà hàng BOSA Thái Bình Dương là một kênh giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện để Công ty tiếp nhận công nghệ, tổ chức sản xuất ở quy mô phù hợp với nhu cầu thực tế và từng bước chuẩn bị mở rộng tiêu thụ sản phẩm.

Từ 8/2026, Công ty tham gia nhân rộng mô hình ứng dụng công nghệ enzyme trong sản xuất chả mực trên cơ sở tiếp nhận chuyển giao công nghệ của dự án. Sau khi được chuyển giao, Công ty chủ động bố trí kinh phí mua nguyên liệu, chi trả nhân công và trực tiếp tổ chức sản xuất tại nhà xưởng của doanh nghiệp.

Hoạt động sản xuất được bố trí theo nhu cầu tiêu thụ, với sản lượng thực tế khoảng 300 kg/tháng. Lũy kế trong hai tháng 8 và 9/2026, Công ty đã sản xuất khoảng 600 kg chả mực ứng dụng công nghệ enzyme của dự án.

Hiện nay, sản phẩm chủ yếu phục vụ bán hàng tại Nhà hàng BOSA Thái Bình Dương của Công ty. Do đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ công bố sản phẩm, Công ty duy trì quy mô sản xuất nhỏ, phù hợp với nhu cầu của nhà hàng; chưa triển khai phân phối rộng rãi sản phẩm ứng dụng công nghệ của dự án trên thị trường.

Khu vực sơ chế sản phẩm chả mực.

Khu vực sơ chế sản phẩm chả mực.

Kết quả bước đầu cho thấy, Công ty đã tiếp nhận công nghệ và đưa vào sản xuất thực tế, chủ động đầu tư nguyên liệu, nhân công, đồng thời sử dụng kênh tiêu thụ sẵn có để duy trì hoạt động.

Cũng trong ngày 3/10, Đoàn công tác đã ra khảo sát tại khu nuôi trồng thủy sản Tây Hoi (bản Sen cũ), đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh), thuộc Dự án nuôi cá song (cá mú trân châu) bằng lồng HDPE trên biển đạt chứng nhận VietGAP gắn với tiêu thụ sản phẩm.

Đoàn công tác tham quan khu nuôi trồng thủy sản Tây Hoi (bản Sen cũ), đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh), thuộc Dự án nuôi cá song bằng lồng HDPE trên biển đạt chứng nhận VietGAP gắn với tiêu thụ sản phẩm.

Đoàn công tác tham quan khu nuôi trồng thủy sản Tây Hoi (bản Sen cũ), đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh), thuộc Dự án nuôi cá song bằng lồng HDPE trên biển đạt chứng nhận VietGAP gắn với tiêu thụ sản phẩm.

Theo đại diện Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, nuôi biển là lĩnh vực chịu tác động trực tiếp và thường xuyên của điều kiện thời tiết, đặc biệt là gió mạnh, sóng lớn và bão. Khi xảy ra thời tiết cực đoan, hệ thống lồng bè truyền thống có nguy cơ gãy khung, đứt dây neo, vỡ lưới, làm thủy sản thất thoát hoặc chết; sau bão, những biến động về độ mặn, nhiệt độ, pH, oxy hòa tan và chất lượng nước tiếp tục làm tăng nguy cơ cá bị stress và phát sinh dịch bệnh.

Trong điều kiện đó, lồng HDPE được lựa chọn như một giải pháp nhằm từng bước chuyển từ nuôi biển truyền thống sang nuôi biển công nghiệp, có khả năng thích ứng tốt hơn với điều kiện sản xuất ngoài biển.

Ứng dụng công nghệ enzyme và lồng nhựa HDPE trong sản xuất thủy sản Vân Đồn - 6
Ứng dụng công nghệ enzyme và lồng nhựa HDPE trong sản xuất thủy sản Vân Đồn - 7

Lồng HDPE được lựa chọn như một giải pháp nhằm từng bước chuyển từ nuôi biển truyền thống sang nuôi biển công nghiệp, có khả năng thích ứng tốt hơn với điều kiện sản xuất ngoài biển.

Vật liệu HDPE có ưu thế về độ bền, tính dẻo, khả năng chống ăn mòn và tác động của tia UV; hệ thống lồng có khả năng thích ứng với sóng gió tốt hơn lồng bè truyền thống. Bên cạnh đó, kết cấu lồng HDPE thuận lợi cho việc tổ chức vùng nuôi, quản lý đàn cá và từng bước cơ giới hóa, tự động hóa các công đoạn chăm sóc, quản lý và thu hoạch.

Việc lựa chọn lồng HDPE không chỉ là thay đổi vật liệu làm lồng mà còn là một phần của quá trình chuyển đổi phương thức sản xuất truyền thống của bà con ngư dân.

Cán bộ kiểm tra quá trình sinh trưởng, phát triển của giống cá song nuôi trong lồng HDPE trên vịnh Bái Tử Long.

Cán bộ kiểm tra quá trình sinh trưởng, phát triển của giống cá song nuôi trong lồng HDPE trên vịnh Bái Tử Long.

Công nghệ này được áp dụng đồng bộ với quản lý con giống, thức ăn, chế phẩm sinh học, môi trường, an toàn sinh học, ghi chép và truy xuất nguồn gốc theo VietGAP.

Đây là cơ sở để hình thành phương thức nuôi biển chuyên nghiệp, an toàn hơn và phù hợp với định hướng phát triển nuôi biển công nghệ cao và triển khai thực hiện Nghị quyết số 20/NQ-TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Khu vực nuôi cá song của Hợp tác xã nuôi trồng và dịch vụ thủy sản Thắng Lợi.

Khu vực nuôi cá song của Hợp tác xã nuôi trồng và dịch vụ thủy sản Thắng Lợi.

Số liệu từ mô hình năm 2025 tại Hải Phòng và Quảng Ninh cho thấy nuôi cá song trong mô hình công nghệ có tổng chi 1,83372 tỷ đồng, trong khi nuôi ngoài mô hình truyền thống có tổng chi khoảng 1,407983 tỷ đồng. Như vậy, xét theo tổng chi của chu kỳ nuôi trong số liệu theo dõi, mức chi của mô hình cao hơn khoảng 30% so với ngoài mô hình.

Điều này phản ánh đặc điểm của nuôi biển công nghệ cao: chi phí ban đầu và chi phí tổ chức sản xuất có thể cao hơn do yêu cầu về hệ thống lồng, giống, thức ăn công nghiệp, quản lý môi trường, chế phẩm sinh học, quy trình VietGAP và kỹ thuật chăm sóc đồng bộ. Tuy nhiên, phần chi phí tăng thêm được bù đắp bằng năng suất, tỷ lệ sống, khả năng quản lý rủi ro và hiệu quả kinh tế cao hơn.

Công nghệ enzyme là một giải pháp hỗ trợ chuẩn hóa quy trình, nâng cao khả năng tạo gel, độ dai, độ giòn, chất lượng cảm quan và tính ổn định của sản phẩm; góp phần thúc đẩy chế biến sâu và gia tăng giá trị nguồn nguyên liệu mực tại địa phương.

Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam thông qua hoạt động Khuyến nông chuyển giao quy trình cho cơ sở sản xuất, nâng cao khả năng tiếp nhận công nghệ, kiểm soát chất lượng và hình thành liên kết giữa người khai thác, cơ sở sơ chế - chế biến, doanh nghiệp và thị trường.

Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn