Mỗi dịp Tết, ông Hùng, 78 tuổi, ở Ninh Bình, lại đếm số con cháu quây quần quanh mâm cơm. Ngôi nhà từng chật kín trẻ nhỏ, người lớn phải kê thêm bàn ghế ngoài sân mới đủ chỗ. Nay, dù gia đình có gần 20 người, số cháu nhỏ chỉ còn đếm trên đầu ngón tay.
Ông Hùng có 7 người con. Vợ chồng ông từng nuôi các con trong cảnh thiếu thốn, bữa cơm nhiều khi chỉ có rau, cá đồng. Ngày ấy, ông bà quan niệm đông con thì vui cửa vui nhà, anh chị em có nhau, cha mẹ về già cũng có người chăm sóc. Chuyện sinh thêm con ít khi được cân nhắc bằng những phép tính về thu nhập hay chi phí nuôi dạy.
Đến đời các con, quan niệm ấy dần thay đổi. Cả 7 người đều chỉ sinh một hoặc hai con, mong dành cho con điều kiện học hành, chăm sóc tốt hơn. Ông Hùng ủng hộ lựa chọn này, bởi hiểu những nhọc nhằn mình từng trải qua.
Đến thế hệ cháu, việc sinh con càng trở nên dè dặt. Có người ngoài 30 tuổi vẫn chưa kết hôn, có vợ chồng con gái 4 tuổi nhưng chưa dám sinh thêm. Họ đang trả góp căn hộ, tiền gửi trẻ và sinh hoạt mỗi tháng chiếm phần lớn thu nhập.
“Ngày xưa, chúng tôi nghèo nhưng cứ sinh con rồi cùng nhau nuôi. Bây giờ các cháu bảo phải chuẩn bị đủ thứ mới dám sinh, tôi cũng chẳng biết khuyên thế nào”, ông Hùng nói.
Điều khiến ông băn khoăn là nhiều người không phải không thích trẻ nhỏ, mà lo chưa đủ điều kiện để nuôi dạy con chu đáo. Trong những cuộc trò chuyện gia đình, chuyện mua nhà, đổi việc, trả nợ xuất hiện thường xuyên hơn kế hoạch đón thêm thành viên.

Một ca sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cơ sở 2. (Ảnh minh hoạ: Na Lê)
Sự thay đổi trong gia đình ông Hùng phản ánh chuyển biến lớn của dân số Việt Nam. Theo GS.TS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế quốc dân, những năm 1960, mỗi phụ nữ Việt Nam trung bình sinh khoảng 7 con trong suốt cuộc đời sinh sản.
Khi ấy, quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ” còn phổ biến. Chiến tranh, điều kiện sống khó khăn và khả năng tiếp cận các biện pháp tránh thai hạn chế khiến việc sinh đẻ có kế hoạch chưa trở thành lựa chọn phổ biến của nhiều gia đình.
Tháng 12/1961, Nhà nước bắt đầu chủ trương sinh đẻ có hướng dẫn, đặt nền móng cho công tác dân số. Đến giai đoạn 1991-2000, hoạt động kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh. Cán bộ dân số đến từng hộ vận động, tuyên truyền, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh ít con để có điều kiện chăm sóc gia đình tốt hơn.
Thông điệp “Dù gái hay trai, chỉ hai là đủ” trở nên quen thuộc. Sau nhiều năm thực hiện chính sách, tổng tỷ suất sinh giảm còn 2,09 con/phụ nữ vào năm 2006, đưa Việt Nam đạt mức sinh thay thế.
Tuy nhiên, từ năm 2018, mức sinh cả nước tiếp tục giảm xuống dưới ngưỡng này. Năm 2024, tổng tỷ suất sinh còn 1,91 con/phụ nữ, thấp nhất trong lịch sử thống kê dân số Việt Nam. Con số tăng nhẹ lên 1,93 vào năm 2025 và ước đạt 1,96 trong 6 tháng đầu năm 2026. “Nhìn lại nửa thế kỷ, phụ nữ Việt Nam ngày nay sinh chưa bằng một phần ba số con của thế hệ trước”, GS Cử nhận định.
Theo ông, thay đổi sâu sắc hơn nằm ở cách người dân quyết định sinh con. Nếu trước đây, việc sinh đẻ chịu ảnh hưởng lớn từ tập quán và quan niệm truyền thống, ngày nay các cặp vợ chồng thường tính đến thu nhập, công việc, nhà ở, chi phí giáo dục và khả năng cân bằng cuộc sống trước khi sinh thêm con.
Ông Mai Xuân Phương, nguyên Phó vụ trưởng Truyền thông - Giáo dục, Tổng cục Dân số (nay là Cục Dân số, Bộ Y tế) đánh giá chính sách dân số đã góp phần quan trọng giúp Việt Nam giảm mức sinh cao và duy trì mức sinh thay thế trong nhiều năm. Nhưng khi mức sinh tiếp tục đi xuống, thành quả ấy cũng đặt ra những thách thức mới.
Năm 1989, Việt Nam có khoảng 64 triệu dân, với hơn 1,9 triệu trẻ chào đời mỗi năm. Đến năm 2024, dân số vượt 101 triệu người nhưng số trẻ sinh ra chỉ còn khoảng 1,3 triệu. Số ca sinh hằng năm giảm hơn 600.000 so với 35 năm trước.
Nếu xu hướng này kéo dài, Việt Nam sẽ phải đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, lực lượng lao động thu hẹp và áp lực ngày càng lớn lên hệ thống an sinh xã hội.
Trước thực tế đó, chính sách dân số đang chuyển hướng, nhấn mạnh quyền tự quyết của các cặp vợ chồng về thời điểm sinh, số con và khoảng cách giữa các lần sinh. Các chính sách hỗ trợ phụ nữ sinh đủ hai con, điều chỉnh chế độ nghỉ thai sản, hỗ trợ tài chính tại một số địa phương cũng được triển khai hoặc đề xuất.
Bộ Y tế đồng thời nghiên cứu những giải pháp như tổ chức các khóa học về hôn nhân, gia đình cho người trẻ trước khi kết hôn, biểu dương các cặp vợ chồng sinh đủ hai con tại địa phương có mức sinh thấp và hỗ trợ một số chi phí chăm sóc trẻ nhỏ.
Dù vậy, hỗ trợ tài chính hay tuyên truyền khó có thể tự mình thay đổi quyết định của người trẻ. Khi tiền nhà, chi phí nuôi dạy con và nỗi lo công việc vẫn thường trực, mong muốn có thêm con chưa chắc trở thành hiện thực.
Với ông Hùng, niềm vui lớn nhất mỗi dịp sum họp vẫn là nghe tiếng trẻ nhỏ chạy nhảy trong sân. Ông mong các cháu có điều kiện thì sinh đủ hai con, để gia đình thêm đông vui. Nhưng ông cũng hiểu thế hệ sau không thể sống theo cách của mình ngày trước.
Sau hơn nửa thế kỷ, Việt Nam đã đi từ vận động giảm sinh đến khuyến khích sinh đủ con. Bài toán hiện nay không đơn thuần là thuyết phục người trẻ sinh thêm, mà là giúp họ có đủ điều kiện để nuôi dạy con và không phải đánh đổi quá nhiều về công việc, tài chính hay chất lượng cuộc sống. Khi nỗi lo ấy được chia sẻ bằng những chính sách thiết thực, quyết định làm cha mẹ mới có thể trở nên nhẹ nhõm hơn.









