Trong hai ngày 2 - 3/10/2026, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức đợt khảo sát, kiểm tra thực tế tại 2 dự án ứng dụng công nghệ enzyme trong sản xuất, chế biến một số sản phẩm từ mực gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm và Dự án xây dựng mô hình nuôi cá song (mú trân châu) bằng lồng HDPE trên biển gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm tại Đặc khu Vân Đồn, TP Quảng Ninh.

Cán bộ kiểm tra quá trình sinh trưởng, phát triển của giống cá song nuôi trong lồng HDPE trên vịnh Bái Tử Long.
Tại Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn (Quảng Ninh), các đại biểu được trực tiếp tham quan, khảo sát quy trình sản xuất các sản phẩm chả mực, ruốc tôm, ruốc bề bề, sản phẩm từ sá sùng và các loại hải sản khác, đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ enzyme trong sản xuất, chế biến một số sản phẩm từ mực.
Đối với Dự án xây dựng mô hình nuôi cá song bằng lồng HDPE trên biển, đoàn kiểm tra kết hợp tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật ngay trong quá trình triển khai. Các học viên được trực tiếp tham quan cơ sở nuôi cá song bằng lồng HDPE, thực hành đo các yếu tố môi trường và tìm hiểu sự khác biệt giữa mô hình áp dụng quy trình VietGAP với cơ sở nuôi đối chứng; chứng kiến cán bộ kiểm tra quá trình sinh trưởng, phát triển của giống cá song nuôi trong lồng HDPE trên vịnh Bái Tử Long.
Theo ông Hoàng Văn Hồng - Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, thông qua hai dự án có thể thấy được tác động rõ rệt tới hai mắt xích quan trọng của chuỗi giá trị thủy sản Quảng Ninh. Nếu công nghệ enzyme góp phần nâng giá trị nguyên liệu và thúc đẩy chế biến sâu thì lồng HDPE kết hợp VietGAP giúp thay đổi phương thức nuôi biển theo hướng kiểm soát đầu vào, giảm rủi ro, tăng khả năng chống chịu và nâng hiệu quả kinh tế. Điểm chung của cả hai là tiến bộ kỹ thuật được gắn với đào tạo, tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ và nhu cầu thị trường.
Bên cạnh đó, các dự án khuyến nông được thực hiện tại Quảng Ninh không chỉ dừng lại ở việc nâng cao năng suất, giá trị có thể “đo đếm” mà còn mang lại những hiệu quả “vô hình” bằng nhiều hoạt động như đào tạo, tập huấn hay tạo nguồn vốn “mồi” để người dân có cơ hội tiếp cận gần hơn với con giống mới, công nghệ hiện đại,…
Từ kết quả bước đầu tại Quảng Ninh, có thể khẳng định, khuyến nông không chỉ tạo ra một mô hình trình diễn, mà còn tạo động lực để người sản xuất mạnh dạn đổi mới công nghệ, hình thành phương thức sản xuất hiện đại và nâng giá trị trên toàn chuỗi thủy sản.
Kết quả tại hai cơ sở cho thấy giá trị của dự án không chỉ nằm ở việc hoàn thiện một quy trình công nghệ mà quan trọng hơn, công nghệ đã được chuyển từ nghiên cứu sang sản xuất, được người lao động tiếp nhận, doanh nghiệp chủ động đầu tư nguyên liệu và nhân công, đồng thời gắn trực tiếp với kênh tiêu thụ.
Đây là thước đo quan trọng đối với hiệu quả của hoạt động khuyến nông: Công nghệ có khả năng “sống” sau chuyển giao và tạo động lực để cơ sở tiếp tục đầu tư, thương mại hóa sản phẩm.






