Đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường không chỉ đòi hỏi công nghệ đáp ứng nhu cầu thực tế mà còn cần cơ chế quản trị, định giá và khai thác tài sản trí tuệ phù hợp.
Từ thực tiễn doanh nghiệp đến hoạt động chuyển giao công nghệ tại viện nghiên cứu, trường đại học, việc quản trị tài sản trí tuệ đang trở thành một khâu quan trọng trong quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Quản trị sở hữu trí tuệ ngay từ ý tưởng
Chia sẻ tại Hội thảo Khoa học SIEV 2026 do Trường ĐH Nguyễn Tất Thành tổ chức, ông Trịnh Trọng Dương, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Dịch vụ và Giải pháp Công nghệ Giáo dục PHX cho rằng đổi mới sáng tạo cần gắn với quản trị sở hữu trí tuệ (SHTT) và thương mại hóa để tạo ra sản phẩm có giá trị trên thị trường.
Theo ông Dương, nếu không làm rõ quyền đối với sản phẩm ngay từ đầu, doanh nghiệp có thể gặp tranh chấp khi hợp tác hoặc mở rộng hoạt động.
Ông Trịnh Trọng Dương, Phó Giám đốc Công ty Cổ phần Dịch vụ và Giải pháp Công nghệ Giáo dục PHX. (Ảnh: Ngọc Duy)
Từ nhu cầu hỗ trợ nhà trường quản lý học sinh đi xe buýt, PHX Smart School phát triển giải pháp định vị xe, sau đó mở rộng sang nhận diện khuôn mặt, quản trị trường phổ thông và quản trị đại học. Khi sản phẩm phát triển qua nhiều giai đoạn, tích hợp các thành phần công nghệ khác nhau, việc nhận diện và quản trị tài sản trí tuệ trở thành yêu cầu quan trọng.
Ông Dương cho biết các tài sản cần được quản lý có thể bao gồm phần mềm, thiết kế, tài liệu, thương hiệu, bí quyết và thuật toán. Với những thành phần công nghệ của bên thứ ba, doanh nghiệp cần làm rõ quyền sở hữu, phạm vi sử dụng và điều kiện kết nối dữ liệu. Việc xác định rõ các yếu tố này giúp doanh nghiệp chủ động hơn khi phát triển sản phẩm, hợp tác với đối tác và khai thác công nghệ.
Ông Trần Giang Khuê, Trưởng Văn phòng đại diện Cục Sở hữu trí tuệ tại TP.HCM, cho rằng SHTT cần được nhìn nhận như một nguồn lực kinh tế, thay vì chỉ là công cụ pháp lý để xác lập và bảo vệ quyền.
Khi được quản trị phù hợp, tài sản trí tuệ có thể trở thành cơ sở cho các hoạt động chuyển nhượng, cấp phép, góp vốn hoặc hợp tác đầu tư. Việc xác định rõ quyền đối với tài sản cũng giúp các bên hạn chế tranh chấp và chủ động hơn trong quá trình thương mại hóa.
Tuy nhiên, để phát huy giá trị của tài sản trí tuệ, việc nhận diện tài sản, xác định quyền của các bên và xây dựng phương án khai thác cần được thực hiện từ giai đoạn hình thành ý tưởng, nghiên cứu và phát triển công nghệ, thay vì chỉ đặt ra khi sản phẩm chuẩn bị đưa ra thị trường.
Nguồn lực cho đổi mới sáng tạo
Theo ông Khuê, trong nền kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ có khả năng được vốn hóa và chuyển đổi thành giá trị kinh tế. Với các doanh nghiệp khởi nghiệp, nguồn lực quan trọng không chỉ nằm ở tài sản vật chất mà còn ở tri thức, công nghệ, giải pháp mới hoặc mô hình kinh doanh có khả năng tạo khác biệt.
Ông Trần Giang Khuê, Trưởng Văn phòng đại diện Cục Sở hữu trí tuệ tại TP.HCM, phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Ngọc Duy)
Việc nhận diện và khai thác những tài sản này giúp doanh nghiệp phát huy giá trị tri thức, công nghệ và tích lũy năng lực cạnh tranh. Giá trị đó không nhất thiết chỉ đến từ các quyền SHTT đã đăng ký mà còn có thể hình thành thông qua việc ứng dụng công nghệ, cải tiến giải pháp và phát triển mô hình kinh doanh.
Ông Khuê chỉ ra sự khác biệt giữa khai thác ứng dụng với khai thác thương mại. Khai thác ứng dụng có thể bắt đầu từ việc sử dụng tri thức, công nghệ sẵn có để học hỏi, cải tiến và làm chủ công nghệ, chưa nhất thiết tạo ra doanh thu ngay.
Trong khi đó, khai thác thương mại là quá trình chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, dịch vụ để tạo doanh thu. Trong hoạt động đổi mới sáng tạo, hai hướng này có thể kết hợp nhằm vừa phát huy giá trị ứng dụng, vừa tạo ra giá trị kinh tế.
Để đưa tài sản trí tuệ ra thị trường, việc phát triển công nghệ cần gắn với nhu cầu thực tế, xác định rõ vấn đề khách hàng cần giải quyết và quy mô thị trường.
Việc phát triển công nghệ cần gắn với nhu cầu thực tế. (Ảnh: Ngọc Duy)
Một giải pháp có thể đáp ứng tốt nhu cầu của một nhóm khách hàng nhất định nhưng vẫn cần được đánh giá về khả năng mở rộng trước khi đầu tư phát triển ở quy mô lớn.
“Quá trình thương mại hóa cũng vì thế đòi hỏi nguồn lực cho thiết kế, tạo mẫu, thử nghiệm, tiếp thị và sản xuất, thay vì chỉ dừng ở nghiên cứu hoặc xác lập quyền SHTT”, ông Khuê nhấn mạnh.
Điều này đặt ra yêu cầu kết nối các khâu nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ và phát triển thị trường, để kết quả nghiên cứu có thể trở thành sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng nhu cầu thực tế.
Từ thực tiễn đó, ông Khuê cho rằng cần tăng cường liên kết giữa nhà nghiên cứu, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời phát huy vai trò của các tổ chức trung gian trong kết nối công nghệ với thị trường.
Bên cạnh bảo hộ quyền, các đơn vị cần quan tâm đến quản trị, khai thác và định giá tài sản trí tuệ, cũng như nguồn lực đầu tư để phát triển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm có khả năng thương mại hóa.










