• Bình luận

  • Facebook

  • Twitter

  • Zalo

    Zalo

  • Copy

Nhớ về Nam Bang Thủy tổ

Phóng viên28/02/2012 11:59:00 +07:00
28/02/2012 11:59:00 +07:00
Google News

Nơi đây có Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ là một trong những lăng mộ, ngôi đền thiêng cổ nhất nước ta...

    Chúng tôi về làng Á Lữ, xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành, Bắc Ninh) khi người dân nơi đây đang tấp nập chuẩn bị long trọng tổ chức Lễ hội Kinh Dương Vương và kỷ niệm 4891 năm Vua Thủy Tổ khai sinh mở nước khai mạc vào ngày 17 tháng Giêng năm Nhâm Thìn, tức 8/02/2012. Nơi đây có Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ là một trong những lăng mộ, ngôi đền thiêng cổ nhất nước ta, là dấu ấn lịch sử thiêng liêng nối sức mạnh cội nguồn dân tộc nhắc nhở con cháu luôn nhớ về tổ tông.

 

 Đền thờ Kinh Dương Vương

“Hồng Bàng là tổ nước ta…”

Theo truyền thuyết lịch sử và các tài liệu, thư tịch cổ thì lịch sử thời đại Hồng Bàng là thời đại thượng cổ của lịch sử Việt Nam.

Tương truyền rằng thời ấy, ở xóm Bàng, thôn Đoài, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, phủ Siêu Loại, xứ Vũ Ninh, trên vùng châu thổ sông Hồng có một vị tổ sư, người phát sinh ra nghề trồng lúa nước và truyền nghề đó cho dân chúng các vùng lân cận. Vì vậy ông được nhân dân suy tôn là Thần Nông. Đền thờ Thần Nông đến nay vẫn còn. Hàng năm cứ vào ngày mùng 4 tháng hai âm lịch dân làng mở hội cầu mọi sự tốt lành và tỏ lòng biết ơn, thành kính cụ tổ Thần Nông. Theo sử sách, cổ tịch còn lưu truyền thì cụ Thần Nông kết duyên cùng Nữ Long và sinh hạ được Viêm Đế. Viêm Đế sinh ra Đế Minh. Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Sau khi Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh thì gặp người con gái Vụ Tiên và kết duyên cùng nàng. Mối tình này đã sinh ra Lộc Tục.

Lộc Tục sớm tỏ ra là bậc thánh trí, có tư chất thông minh, tài đức hơn người, tinh thần đoan chính, sức khỏe phi thường. Lộc Tục được Đế Minh hết sức yêu quý và muốn nhường ngôi báu cho. Tuy nhiên với bản tính khiêm nhường, đức độ Lộc Tục cố nhường ngôi cho anh là Đế Nghi. Vì vậy Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi cho cai quản phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc) và phong Lộc Tục cai quản phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam). Lộc Tục lấy danh hiệu là Kinh Dương Vương. Theo “Lĩnh Nam chích quái” và “Đại Việt sử ký toàn thư” thì vào năm 2879 (TCN) vua Kinh Dương Vương đã thành lập nhà nước sơ khai đầu tiên đặt tên là Xích Quỷ (tên của sao Quỷ, một trong 28 ngôi sao trong Nhị Thập Bát Tú. Xích Quỷ có nghĩa là sao đỏ. Trời Nam có sao Quỷ đỏ nhất, sáng nhất). Theo “Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú thì Kinh Dương Vương thuở ban đầu đóng đô tại núi Hồng Lĩnh hay còn gọi là ngàn Hồng (thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh ngày nay). Sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì, Phú Thọ). Hiện nay ở Việt Trì còn các lâu đài cũ như Minh Đường, Lâu Phượng, Lâu Hạ, Phượng Lâu… đặc biệt là di tích cung Tiên Cát. Tục truyền cung này được Kinh Dương Vương dựng lên cho thứ phi. Sau khi thứ phi mất trên cung này được xây đền thờ thứ phi.

Lăng Kinh Dương Vương

Kinh Dương Vương đã đi kinh lý khắp núi cao, rừng sâu, biển xa nước Việt. Vương vất vả ngày đêm không quản sớm trưa, nắng mưa, chiều tối, thức khuya dậy sớm, lặn lội khắp mọi vùng mọi miền đất nước, vượt qua muôn trùng bảo tố phong ba để trông nom, gây dựng, mở mang, gìn giữ bờ cõi giang san. Vương lấy đức mà cảm hóa dân. Vương rất trọng nghề nông, yêu quý người làm ra của cải vật chất. Vì vậy khắp nơi dân giàu có, Vương dược trăm họ tin yêu, quy tụ. Ngài lập làng, dạy dân cày cấy, đào giếng, trồng ngũ cốc, săn bắn chim muông. Tương truyền thì Ngài còn dạy dân nhìn bóng nắng mà đoán giờ giấc, cách tính thời tiết 4 mùa, định các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Ngài còn dạy cháu con biết cách dựa theo ngũ hành, hiểu về khí âm dương, thiên địa tạo nên 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông và 5 hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Trên đường đi kinh lý Ngài qua đất Phúc Khang (làng Á Lữ ngày nay) phát hiện ra thế đất quý, có tứ linh: long, ly, quy, phượng, có sông núi bao quanh, rồng chầu, hổ phục. Vì vậy Ngài đã đem những cư dân Việt cổ quy tụ về lập nên những xóm làng đầu tiên. Vùng đất Phúc Khang bắt đầu trỗi dậy sức sống mãnh liệt và trở thành “Thánh địa” của thị tộc, bộ lạc người Việt. Vương cho xây một tòa hành cung ở chốn này để quy tụ những hiền tài khắp vùng luận bàn việc non sông xã tắc. Nước cường, dân thịnh, trăm họ yên vui.

Trước khi về trời Đức Vương vẫn một mực lo lắng cho quê hương xã tắc. Ngài được con cháu đời đời nghi nhớ công ơn như là ông vua của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, lưu danh muôn thuở.

Sau khi Vương băng hà, con trai Ngài là Sũng Lãm lên nối ngôi, xưng là Lạc Long Quân, hiệu là Hùng Hiền Vương. Lạc Long Quân kết duyên cùng Âu Cơ. Cuộc giao duyên Rồng - Tiên có trời đất chứng giám. Mối tình này đã tạo nên một huyền thoại về con lạc cháu hồng.

Thời đại Hồng Bàng kéo dài 18 đời, cả thảy 2622 năm. Đất Việt từ đó hưng thịnh trải nhiều năm, rất lâu dài. Đó là thời kỳ cực thịnh của đất nước.

 

Một chiếc bát cổ từ thời Kinh Dương Vương

“ Thiên cổ cương lăng linh tích tại... ”

Ngay sau khi những người anh hùng mở nước, Thủy tổ dân tộc qua đời người dân đã góp sức xây dựng Lăng Kinh Dương Vương và Đền thờ Kinh Dương Vương - Lạc Long Quân - Âu Cơ ở làng Á Lữ. Lăng được xây dựng trên bãi đất cao bên bờ Nam sông Đuống với cảnh đẹp thiên nhiên, sông nước hùng vĩ. Đây là chốn linh thiêng, được các nhà nước phong kiến xếp vào hàng miếu thờ đế vương các triều đại. Vào mỗi lần quốc lễ nhà vua sai các quan đến tế lễ rất trang nghiêm, trọng thể. Vì vậy trãi qua các triều đại phong kiến lăng Kinh Dương Vương đều được bảo tồn, tôn tạo. Năm Minh Mạng thứ 21 (1840) lăng  được tu bổ lớn và khắc bia đề 4 chữ “Kinh Dương Vương Lăng”. Và các hàng đại tự, câu đối khẳng định việc tôn tạo thờ Thủy tổ đất Việt Nam.

Trong suốt tiến trình lâu dài của lịch sử dân tộc nhân dân khắp vùng quanh năm hương khói phụng thờ để tưởng nhớ tổ tiên:

“Thiên cổ cương lăng linh tích tại

Nhất đàn chở đậu quốc ân sùng”

(Dấu vết linh thiêng ngàn xưa vẫn còn đây/ Bàn thờ cúng đầy lễ vật là do cả nước thành kính dâng lên).

Cổng dẫn vào đền thờ

Cùng với lăng mộ là hai ngôi đền thờ Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân - Âu Cơ. Hai công trình này nằm ở phía Tây thuộc xóm Bi, làng Á Lữ. Đền thờ Kinh Dương Vương được gọi là đền Thượng, gồm hai tòa: Tiền tế và Hậu đường, kiến trúc bộ vì chồng giường, chạm tứ linh, bồn mái đao cong và đắp hình theo kiểu lưỡng long chầu mặt trời. Đền thờ Lạc Long Quân - Âu Cơ gọi là đền Hạ có quy mô nhỏ hơn đền Thượng. Hệ thống các đền thờ tự, đại tự, câu đối, bia ký và thần tích, sắc phong các triều vua phong kiến, đã chứng minh việc thờ cúng các vị thủy tổ dân tộc ở Á Lữ có từ rất xa xưa.

Để nhớ về cội nguồn dân tộc hàng năm nhân dân làng Ái Lữ tổ chức lễ hội long trọng bày tỏ lòng nhớ ơn tổ tiên, đón nhân dân cả nước về dâng hương, tưởng niệm Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ, thể hiện truyền thống dân tộc “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta, đồng thời phản ánh sinh hoạt, đời sống văn hóa tâm linh của cư dân Lạc Việt vốn có nguồn gốc “con rồng cháu tiên” và truyền thống sinh hoạt cộng đồng của những người cấy trồng lúa nước ở vùng châu thổ sông Hồng.

Thời gian lễ hội ngày nay không kéo dài 9 ngày như xưa, mà mở vào chính hội 18 tháng Giêng âm lịch. Dân làng cùng khách thập phương tổ chức tế lễ tại đền và tới lăng dâng hương hoa, lễ vật bày tỏ lòng biết ơn Thủy tổ của dân tộc. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức như đấu vật, cờ tướng, chọi gà, tổ chức biểu diễn các loại hình nghệ thuật, hát dân ca quan họ Bắc Ninh…

Theo Chủ tịch UBND huyện Thuận Thành Lê Đình Thanh thì đây là dịp để chúng ta tưởng nhớ và tri ân với vua Thủy tổ Việt Nam, thể hiện niềm tự hào dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, từ đó nhận thức rõ trách nhiệm lớn lao xây dựng quê hương, đất nước ngày càng văn minh, giàu đẹp.

  

Thọ Bình

Bình luận
vtcnews.vn