“Nhiều quốc gia rất mong muốn chuyển giao công nghệ tiên tiến, dành ưu đãi đặc biệt cho Việt Nam vì muốn chúng ta phát triển thành điểm sáng khu vực và là cầu nối với thế giới, nhưng nếu không làm tốt các chính sách hợp tác, chúng ta sẽ bỏ lỡ những cơ hội này”.
Đó là chia sẻ của TS. Nguyễn Quân - Nguyên Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Hội tự động hóa Việt Nam với Báo Điện tử VTC News về vấn đề hợp tác quốc tế trong khoa học và công nghệ. Đây là vấn đề đang được đặc biệt quan tâm trong chiến lược phát triển Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo trên mọi ngành nghề, lĩnh vực, địa phương thời gian qua.
TS. Nguyễn Quân - Nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ. (Ảnh: Công Tâm)
- Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về vai trò của hợp tác quốc tế trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với nền kinh tế số mà Việt Nam đang hướng tới theo tinh thần của Nghị quyết 57?
Theo tôi đánh giá, đây là một vấn đề rất quan trọng vì chúng ta là một nước đi sau trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Trong rất nhiều năm, chúng ta phải tiến hành các cuộc chiến tranh, rồi phải tự “lột xác” mình trong quá trình đổi mới 40 năm vừa qua.
Chúng ta đi sau rất nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển ở Châu Âu hay Bắc Mỹ. Chính vì thế, chúng ta lại càng phải quan tâm phát triển khoa học công nghệ của đất nước để từng bước nâng cao thứ hạng trong ASEAN, trong khu vực Châu Á và tiến tới tầm quốc tế. Và hợp tác quốc tế là một hướng để chúng ta rút ngắn thời gian, khoảng cách để phát triển.
- Theo quan sát của ông, thời gian qua chúng ta đã làm được những gì trong thúc đẩy hợp tác quốc tế khoa học và công nghệ? Những hạn chế mà chúng ta cần phải khắc phục?
Đến nay, chúng ta đã ký các hiệp định hợp tác khoa học công nghệ với hơn 70 quốc gia. Nhưng phần lớn các hiệp định này vẫn nằm trên văn bản, việc triển khai vào thực tiễn thì chưa được nhiều. Đặc biệt là đối với các quốc gia phát triển nhất như Hoa Kỳ, Nhật Bản, châu Âu hay Trung Quốc.
Tôi nghĩ rằng trong các hiệp định này, chúng ta phải khởi động lại hoặc làm mới các nội hàm cho phù hợp với điều kiện hiện nay. Có nhiều hiệp định chúng ta ký từ những giai đoạn trước năm 2000 rồi chưa được gia hạn lại. Có những hiệp định ký gần đây nhưng vẫn trước thời điểm chúng ta tiến hành cuộc cách mạng về công nghệ số ở Việt Nam.
Vì vậy, chúng ta cần gia hạn và điều chỉnh sao cho các nội dung thỏa thuận mang tính thời sự, gắn liền với mục tiêu phát triển của Việt Nam từ nay đến năm 2045. Ví dụ như: Tập trung hợp tác vào các công nghệ chiến lược; Tập trung hợp tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; Hướng đến các bộ chỉ số nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Khi điều chỉnh lại những nội dung đó, hợp tác quốc tế mới có thể hiệu quả.
Bên cạnh đó, chúng ta phải tăng cường giao lưu về đào tạo với các nước phát triển. Không chỉ gửi người đi đào tạo tại các cơ sở tiên tiến nhất, các viện nghiên cứu, trường đại học, thậm chí là các tập đoàn công nghệ của nước ngoài, chúng ta cũng cần phải có chính sách thu hút những nhân tài này quay trở về. Khi trở về, họ có thể kéo theo các đồng nghiệp từ các nước phát triển đến Việt Nam để cùng tiến hành hoạt động khoa học công nghệ trong nước.
Chưa kể, những mối quan hệ của họ với các doanh nghiệp FDI cũng có thể mang công nghệ và các sản phẩm quan trọng của nước ngoài về cho nền kinh tế số vào Việt Nam, cũng như đưa công nghệ Việt Nam ra nước ngoài.
Trên tinh thần hợp tác “có đi có lại” và phối hợp như thế, hợp tác quốc tế mới hiệu quả. Hiện nay nhiều quốc gia rất mong muốn chuyển giao công nghệ tiên tiến cho Việt Nam, dành ưu đãi đặc biệt vì muốn Việt Nam phát triển thành điểm sáng khu vực và là cầu nối với thế giới. Nếu không làm tốt các chính sách hợp tác, chúng ta sẽ bỏ lỡ những cơ hội này.

Việt Nam đứng trước “cơ hội vàng” về hợp tác quốc tế trong hoa học và công nghệ. (Ảnh minh họa: AI)
- Thưa ông, khi nói đến hợp tác quốc tế, nhiều người vẫn nghĩ là tìm cách đưa nguồn lực quốc tế về Việt Nam. Nhưng hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt Nam như Viettel, FPT đã rất mạnh và vươn ra thế giới. Đây có thể là một hướng rất tốt mà nhiều doanh nghiệp trong nước cần hướng tới. Ông nghĩ sao về vấn đề này ạ?
Đây là một hướng chính sách mà Nhà nước vẫn luôn chú trọng. Sở dĩ Viettel hay FPT có thể đầu tư ra nước ngoài và đạt hiệu quả rất cao là vì Nhà nước đã có chủ trương phát triển viễn thông và phần mềm từ rất sớm.
Chúng ta đã đưa Internet vào Việt Nam rất sớm. Lĩnh vực viễn thông của Việt Nam có thể nói là đi đầu trong khu vực. Du khách quốc tế đến Việt Nam đều thấy hệ thống viễn thông, Wi-Fi, thông tin liên lạc của chúng ta rất tốt, “xịn” và rẻ. Còn FPT làm về phần mềm - lĩnh vực chủ yếu dựa vào trí tuệ con người, ít phụ thuộc vào các chi phí đầu tư khác. Nhờ được khuyến khích và quan tâm từ sớm nên họ mới có cơ hội phát triển.
Bây giờ, nếu các doanh nghiệp khác, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất sản phẩm vật chất muốn vươn ra thế giới, Nhà nước cũng phải có định hướng hỗ trợ và tác động thị trường ngay từ đầu. Một số ngành như sữa của Việt Nam (Vinamilk, TH True Milk) đã đi ra thế giới và cũng phát triển rất tốt. Nhưng với các sản phẩm khác như cơ khí, điện tử, hay nông nghiệp, Nhà nước cần có cơ chế chính sách từ sớm để hỗ trợ.
Chiều vươn ra thế giới là rất quan trọng. Chúng ta không nên để tình trạng luôn luôn nhập siêu, mà phải cân bằng giữa xuất và nhập khẩu. Làm sao để xuất siêu càng nhiều càng tốt, đặc biệt là xuất siêu các sản phẩm mang hàm lượng trí tuệ cao.
Xin cảm ơn ông!
















