Thành tựu ấn tượng về đổi mới sáng tạo
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo đã xác định tầm nhìn đến năm 2045, phấn đấu đạt tỷ lệ 10 người dân có một người khởi nghiệp, 35 người dân có một doanh nghiệp và khoảng 5.000 người dân có một doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
Việt Nam thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu toàn cầu về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo; tối thiểu có 100 doanh nghiệp khởi nghiệp được định giá từ 100 triệu USD trở lên; thị trường vốn đầu tư mạo hiểm đạt quy mô 10 tỷ USD.
Tầm nhìn này thể hiện khát vọng đưa Việt Nam trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực, hội tụ trí tuệ, công nghệ và nguồn lực toàn cầu.
Hoạt động nghiên cứu, đầu tư khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp.
Nhiều năm qua, Việt Nam từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng cho việc hình thành hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.
Đáng chú ý là Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, lần đầu đưa khái niệm “đổi mới sáng tạo” vào hệ thống pháp luật và đặt ngang hàng với khoa học và công nghệ.
Cùng với đó, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 đã nêu rõ: Bảo đảm ưu tiên bố trí ngân sách cho chi đầu tư phát triển để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong từng thời kỳ về phát triển kinh tế; phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Qua đó, tạo nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ.
Ngoài ra, còn phải kể đến Nghị định số 268/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng mạng lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo…
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đổi mới sáng tạo đang trở thành một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế phát triển của mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam, quá trình mở cửa và hội nhập không chỉ tạo ra cơ hội tiếp cận thị trường, nguồn vốn, công nghệ và tri thức mới, mà còn đặt nền kinh tế trước sức ép phải đổi mới mạnh mẽ để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thế giới.
Mặc dù xuất phát điểm còn hạn chế, Việt Nam những năm gần đây đã đạt được một số thành tựu ấn tượng về đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng để tự tin bước vào kỷ nguyên công nghệ.
Năm 2025, số lượng công bố khoa học quốc tế của Việt Nam đạt hơn 25 nghìn bài, tăng 13,48% so với năm 2024.
Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia và nền kinh tế; Việt Nam đứng thứ 55 toàn cầu về hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
Trong Báo cáo GII 2025 của WIPO, Việt Nam được WIPO ghi nhận là một trong 9 quốc gia thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhanh nhất tính từ năm. Việt Nam cũng là một trong 2 quốc gia giữ kỷ lục có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong 15 năm liên tiếp (gồm Ấn Độ và Việt Nam).
Đồng thời, trong 15 năm liền, Việt Nam luôn có kết quả đổi mới sáng tạo cao hơn so với mức độ phát triển, cho thấy hiệu quả trong việc chuyển các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra đổi mới sáng tạo.
TS. Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội nhấn mạnh, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi chưa từng có để bứt phá về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trước hết, là lợi thế hội nhập kinh tế sâu rộng. Việt Nam đã ký kết và thực thi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những đối tác công nghệ hàng đầu như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ.
Mạng lưới FTA dày đặc này mở ra cánh cửa tiếp cận các nguồn lực công nghệ tiên tiến cũng như thị trường rộng lớn cho Việt Nam. Thông qua hợp tác quốc tế, chúng ta có thể nhận chuyển giao tri thức, công nghệ mới, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Cùng với đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược/toàn diện với hơn 20 quốc gia, bao gồm hầu hết các cường quốc công nghệ như Mỹ, Nhật, Đức, Australia... Những mối quan hệ chiến lược này tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường hợp tác về khoa học công nghệ, từ trao đổi chuyên gia, du học nghiên cứu đến thu hút đầu tư vào các trung tâm R&D.
Chẳng hạn, các tập đoàn lớn như Samsung, Apple, Intel đã và đang đầu tư xây dựng trung tâm R&D tại Việt Nam, biến nước ta thành cứ điểm nghiên cứu mới trong chuỗi cung ứng của họ.
Thêm vào đó, quy mô thị trường nội địa 100 triệu dân với tỷ lệ người trẻ cao, nhanh nhạy với công nghệ là động lực quan trọng cho đổi mới. Lực lượng nhân lực STEM của Việt Nam ngày càng lớn mạnh, mỗi năm có hàng chục nghìn kỹ sư công nghệ tốt nghiệp từ các trường đại học trong và ngoài nước.
Chỉ số nhân lực trong bảng GII của Việt Nam đạt điểm cao nhờ tỷ lệ biết chữ và thành tích giáo dục phổ thông nổi bật. Cùng với đó, cộng đồng người Việt tài năng ở nước ngoài (đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao tại Thung lũng Silicon, châu Âu, Nhật Bản) là nguồn lực quý báu nếu được kết nối phục vụ phát triển quốc gia.
Các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế cũng đang dành sự quan tâm lớn tới thị trường khởi nghiệp Việt Nam, minh chứng qua dòng vốn startup gia tăng những năm gần đây.
Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt mục tiêu đến năm 2030, tiềm lực, trình độ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt mức tiên tiến ở nhiều lĩnh vực quan trọng, thuộc nhóm dẫn đầu trong các nước có thu nhập trung bình cao; trình độ, năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình của thế giới; một số lĩnh vực khoa học, công nghệ đạt trình độ quốc tế.
Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử; nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển trí tuệ nhân tạo, trung tâm phát triển một số ngành, lĩnh vực công nghiệp công nghệ số mà Việt Nam có lợi thế.
Tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến. Với nền tảng hội nhập sâu rộng và nội lực đang lên, mục tiêu này là khả thi nếu chúng ta biết tận dụng hiệu quả các cơ hội đang có.
Đòi hỏi nỗ lực đồng bộ và đầu tư dài hạn
Song hành với cơ hội là những thách thức không nhỏ. Hội nhập sâu rộng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn và doanh nghiệp quốc tế có tiềm lực mạnh về vốn, công nghệ, nhân lực và kinh nghiệm quản trị.
Trong khi đó, năng lực đổi mới sáng tạo của nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế. Không ít doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, công nghệ và nhân lực chất lượng cao, dẫn đến hàm lượng công nghệ trong sản phẩm thấp.
Một thách thức khác là tốc độ thay đổi của công nghệ ngày càng nhanh. Những công nghệ mới liên tục xuất hiện, làm thay đổi phương thức sản xuất, kinh doanh và quản trị. Nếu không chủ động đầu tư cho đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp có nguy cơ tụt hậu ngay trên chính thị trường trong nước.
Bên cạnh đó, quá trình hội nhập cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng, môi trường, phát triển bền vững và năng lực tuân thủ các quy định quốc tế.
Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đổi mới về công nghệ mà còn phải đổi mới trong tư duy quản trị, mô hình kinh doanh và cách thức tiếp cận thị trường.
Ở khía cạnh nghiên cứu, mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu của Việt Nam công bố quốc tế tuy tăng nhanh nhưng vẫn thấp so với các nước dẫn đầu khu vực. Chúng ta cũng chưa làm chủ được nhiều công nghệ lõi, công nghệ chiến lược quan trọng.
TS. Trần Văn Khải chỉ ra, nhận thức xã hội về chuyển đổi số và sáng tạo đổi mới tuy có cải thiện nhưng chưa đồng đều; không ít cơ quan, doanh nghiệp vẫn chưa coi trọng đúng mức việc đầu tư cho công nghệ.
Tất cả những hạn chế này đặt ra yêu cầu Việt Nam phải quyết liệt cải cách trên nhiều phương diện, từ giáo dục đào tạo, chính sách thu hút nhân tài, đến hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy sáng tạo.
Thu hẹp khoảng cách về khoa học công nghệ với thế giới đòi hỏi nỗ lực đồng bộ và đầu tư dài hạn, nhưng đây là nhiệm vụ không thể trì hoãn nếu chúng ta muốn vươn tới mục tiêu quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng, mặc dù hệ thống chính sách và các thiết chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo đang từng bước được hình thành, nhiều chuyên gia cho rằng, thách thức lớn nhất hiện nay vẫn là khả năng kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái.
Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia chỉ có thể vận hành hiệu quả khi ba trụ cột được liên kết chặt chẽ: Viện nghiên cứu và trường đại học tạo ra tri thức và công nghệ, doanh nghiệp thương mại hóa và đưa công nghệ ra thị trường, còn Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế và tổ chức thực thi.
TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (Bộ Công Thương), đề xuất, cần xây dựng khung pháp lý đặc thù cho mô hình liên kết 3 nhà: Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp.
Trong đó, khuyến khích các nhà khoa học tập trung nghiên cứu các bài toán thực tiễn, bài toán lớn gắn với các chương trình kinh tế trọng điểm của quốc gia; khuyến khích doanh nghiệp chủ động đặt hàng nghiên cứu, tham gia vào quá trình chuẩn hóa kỹ thuật và đầu tư R&D.
Đổi mới sáng tạo không chỉ giúp doanh nghiệp thích ứng tốt hơn với những biến động của thị trường, mà còn là chìa khóa để Việt Nam nâng cao vị thế, phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng.




