Một video, phần mềm, trò chơi, thiết kế hay khóa học trực tuyến có thể được khai thác trên nhiều nền tảng, thị trường khác nhau. Tuy nhiên, khả năng thương mại hóa không chỉ phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, mà còn ở việc ai sở hữu, được khai thác những quyền nào và trong phạm vi nào.
Do đó, bản quyền không đơn thuần là công cụ bảo vệ sản phẩm trước nguy cơ sao chép trên môi trường số. Xác định rõ quyền ngay từ khi sản phẩm được tạo ra là cơ sở để chủ sở hữu có thể phân phối, cấp phép, chuyển giao và tạo doanh thu từ thành quả sáng tạo.
Từ bảo vệ bản quyền đến quản trị quyền
Tại một hội nghị về bảo vệ quyền tác giả trên không gian mạng diễn ra tại Hà Nội cuối tháng 7, ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch CSMO Vietnam, cho biết một trong những nhầm lẫn phổ biến là đồng nhất việc nắm giữ sản phẩm với quyền khai thác sản phẩm đó.

Chủ tịch CSMO Vietnam Lê Quốc Vinh. (Ảnh: VACD)
Ông Vinh chỉ ra thực tế “có file” không đồng nghĩa “có quyền khai thác”. Doanh nghiệp có thể trả tiền để sản xuất một video nhưng chưa chắc được quyền sử dụng vô thời hạn; có phần mềm nhưng không sở hữu mã nguồn; có bài giảng nhưng không đồng nghĩa được quyền bán thành khóa học.
Vấn đề càng phức tạp khi một sản phẩm số thường chứa nhiều lớp quyền. Theo luật sư Lê Quang Vinh, nhà sáng lập Bross & Partners, một nội dung có thể đồng thời bao gồm tác phẩm gốc như nhạc, lời, kịch bản; bản phối, bản chuyển thể; cuộc biểu diễn; bản ghi âm, ghi hình; hình ảnh, đồ họa, nhân vật, giao diện và quyền khai thác trên nền tảng.
Bởi vậy, mua một sản phẩm không có nghĩa đã mua toàn bộ quyền chứa trong sản phẩm đó. Muốn đưa sản phẩm vào kinh doanh, doanh nghiệp cần biết ai là chủ sở hữu từng lớp quyền và mình được phép làm gì với chúng.
Luật sư Lê Quang Vinh cho rằng chuỗi quyền cần được làm rõ từ nguồn gốc sản phẩm, quá trình chuyển dịch quyền đến thẩm quyền thực thi. Trong đó, hợp đồng cần xác định cụ thể quyền nào được chuyển, độc quyền hay không, thời hạn, lãnh thổ, nền tảng khai thác cũng như quyền kiếm tiền, chỉnh sửa, cắt dựng.
Những yếu tố này tác động trực tiếp đến khả năng thương mại hóa. Một doanh nghiệp có thể được phép đăng một video trên mạng xã hội nhưng chưa chắc có quyền bán lại cho bên thứ ba. Đơn vị được cấp quyền phân phối nội dung cũng không mặc nhiên được phép chỉnh sửa, làm tác phẩm phái sinh hay sử dụng trên tất cả nền tảng.
“Công cụ kỹ thuật chỉ vận hành quyền. Nó không tạo ra quyền”, luật sư Lê Quang Vinh nhận định. Theo ông, quyền truy cập hệ thống, quản lý kênh, phân phối hay thu tiền không đồng nghĩa với quyền sở hữu nội dung. Công nghệ có thể hỗ trợ thực thi, nhưng không thay thế hợp đồng, chuỗi quyền và phạm vi ủy quyền.
Điều này đặt ra yêu cầu thay đổi cách tiếp cận bản quyền số. Thay vì chỉ tìm cách xử lý sau khi video bị sao chép, phần mềm bị sử dụng trái phép hay nội dung bị đăng lại, chủ sở hữu cần quản trị quyền ngay từ khi sản phẩm hình thành.
Bà Lê Thị Minh Hằng, Giám đốc Trung tâm Quyền và Giải pháp Tài sản Số, cho rằng cần “chuyển từ xử lý vi phạm sang quản trị quyền”. Theo cách tiếp cận này, quyền được quản lý xuyên suốt từ định danh, xác thực, hồ sơ quyền đến cấp phép, khai thác, đối soát, bảo vệ và lưu trữ dữ liệu.
Khi đó, bản quyền không chỉ đóng vai trò “lá chắn” chống sao chép. Một hệ thống quản trị tốt còn giúp xác định sản phẩm thuộc về ai, bên nào được phép khai thác, phạm vi đến đâu, doanh thu phát sinh thế nào và ai có quyền xử lý khi xảy ra vi phạm.
ThS Bùi Nguyên Hùng cũng đề xuất doanh nghiệp quản trị tài sản trí tuệ theo chuỗi “nhận diện - bảo vệ - khai thác - phát triển”. Theo cách tiếp cận này, bảo vệ quyền không phải đích cuối cùng. Sau khi nhận diện và bảo vệ, tài sản cần được đưa vào khai thác để tiếp tục tạo giá trị.
Quan điểm này tương đồng với định hướng của Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ). Theo cơ quan này, việc bảo hộ quyền SHTT chỉ thực sự có ý nghĩa kinh tế khi tài sản trí tuệ được thương mại hóa, mang lại lợi ích cho chủ sở hữu.
Với quyền tác giả, một trong những phương thức thương mại hóa là chuyển quyền sử dụng thông qua các mô hình kinh doanh phù hợp.

Xác lập và quản trị bản quyền giúp bảo vệ thành quả sáng tạo, mở đường thương mại hóa sản phẩm số.
AI đặt ra bài toán mới về bản quyền
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo (AI) đang khiến bài toán bản quyền số phức tạp hơn khi công nghệ tham gia cả quá trình tạo lập lẫn khai thác sản phẩm.
Ở đầu vào, doanh nghiệp phải quan tâm đến quyền đối với văn bản, hình ảnh, âm thanh, video hay dữ liệu được sử dụng cho hệ thống AI. Nội dung xuất hiện công khai trên Internet không đồng nghĩa có thể tự do sử dụng cho mọi mục đích.
Ở đầu ra, vấn đề đặt ra là mức độ đóng góp của con người trong sản phẩm do AI hỗ trợ. Tài liệu của luật sư Lê Quang Vinh khuyến nghị lưu lịch sử câu lệnh, dữ liệu tương tác, thông số kỹ thuật, bản thảo và các lần chỉnh sửa, đồng thời làm rõ vai trò của con người trong lựa chọn, sắp xếp, chỉnh sửa và quyết định kết quả cuối cùng.
Điều này đặc biệt quan trọng khi sản phẩm được đưa vào kinh doanh. Nếu nguồn gốc dữ liệu hoặc quyền đối với các thành phần tạo nên sản phẩm không rõ ràng, doanh nghiệp có thể gặp rủi ro khi cấp phép hoặc khai thác trên thị trường.
Đưa bản quyền thành tài sản tạo giá trị
Việc chuyển từ bảo vệ sang khai thác tài sản trí tuệ cũng đang được đặt ra ở cấp chính sách.
Phát biểu tại kỳ họp Đại hội đồng Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tháng 7/2026, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết, Việt Nam định hướng hoàn thiện thể chế SHTT theo hướng hiện đại, đồng bộ, thích ứng với kinh tế số; thúc đẩy khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ, đồng thời nâng cao hiệu quả thực thi và bảo vệ quyền.
Định hướng này cho thấy SHTT ngày càng được đặt trong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ dừng ở xác lập và bảo vệ quyền.
Cục Sở hữu trí tuệ cũng khuyến nghị trước khi thương mại hóa, chủ sở hữu cần kiểm toán tài sản trí tuệ, phân tích thị trường và xác định giá trị tài sản. Việc đánh giá không chỉ dựa trên bản thân quyền SHTT mà còn phải tính tới quy mô thị trường tiềm năng, nhu cầu khách hàng, đối thủ cạnh tranh và những đối tác có khả năng mua hoặc nhận cấp phép.
Bài toán định giá cũng đang được chú trọng. Tháng 5/2026, Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp Cục Quản lý giá, Bộ Tài chính tổ chức hội thảo về xác định giá trị tài sản trí tuệ.
Trong bối cảnh kinh tế tri thức phát triển, tài sản vô hình ngày càng đóng góp lớn vào giá trị doanh nghiệp, song xác định chính xác giá trị loại tài sản này vẫn là bài toán đối với doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu tại Việt Nam.
Với sản phẩm số, quá trình thương mại hóa vì vậy cần được tính từ thời điểm hình thành sản phẩm. Khi thuê đơn vị sản xuất video, phát triển phần mềm, trò chơi, thiết kế hay xây dựng kho nội dung, doanh nghiệp cần xác định rõ ngay trong hợp đồng ai là chủ sở hữu, quyền nào được chuyển giao, thời hạn và phạm vi sử dụng, có được chỉnh sửa, cấp phép lại hay khai thác doanh thu hay không.
Chủ thể sáng tạo cũng cần lưu giữ file gốc, lịch sử phiên bản, hợp đồng, dữ liệu dự án và những tài liệu chứng minh quá trình tạo ra sản phẩm.
Theo luật sư Lê Quang Vinh, một giấy phép khai thác nội dung chưa chắc đã trao quyền xử lý bên thứ ba; bởi vậy, quyền khai thác và quyền thực thi cũng cần được xác định rõ.
Ở góc độ quản trị, Cục Sở hữu trí tuệ khuyến nghị doanh nghiệp lập danh mục tài sản trí tuệ, kiểm tra quyền sở hữu đối với những tài sản được tạo ra và xây dựng chiến lược thương mại hóa gắn với chiến lược kinh doanh.
Điều này đặc biệt cần thiết khi một sản phẩm số có thể tiếp tục được phân phối, cấp phép, chuyển giao hoặc phát triển thành nhiều sản phẩm khác sau lần phát hành đầu tiên. Nếu chuỗi quyền rõ ràng, giá trị của sản phẩm không dừng lại ở doanh thu ban đầu mà có thể tiếp tục được khai thác trên những nền tảng và mô hình kinh doanh mới.
Trong kinh tế số, bảo vệ bản quyền vì thế không phải công việc chỉ bắt đầu sau khi sản phẩm bị sao chép. Xác lập và quản trị quyền ngay từ khi hình thành sản phẩm chính là nền tảng để doanh nghiệp bảo vệ thành quả sáng tạo, chủ động khai thác và đưa sản phẩm số trở thành tài sản có khả năng tạo giá trị lâu dài.




