Máy sấy năng lượng mặt trời ITS được thương mại hóa chỉ một năm sau khi nghiệm thu đề tài. Qua quá trình này, ThS. Phan Văn Hiệp, giảng viên Trường Đại học Văn Hiến, Giám đốc Công ty TNHH Giải pháp Công nghệ Thông minh ITS, đã nhận ra những điểm nghẽn về vốn, sở hữu trí tuệ và cơ chế đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Nhiều ý tưởng hay nhưng “xa vời” thực tế
Theo ông Phan Văn Hiệp, máy sấy năng lượng mặt trời ITS hiện đã khá phổ biến trên thị trường cả nước. Sản phẩm xuất phát từ một đề tài nghiên cứu đặt hàng của Sở KH&CN TP.HCM, trên cơ sở đề xuất của Hợp tác xã Thủy sản ở Củ Chi vào năm 2017.
Khi đó, hợp tác xã có nhu cầu sấy cá sặc rằn, một sản phẩm khó sấy. Trước đây, người dân chủ yếu phơi nắng, nhưng phương pháp này phụ thuộc vào thời tiết và khó kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như chất lượng sản phẩm.
ThS. Phan Văn Hiệp, giảng viên Trường Đại học Văn Hiến, Giám đốc Công ty TNHH Giải pháp Công nghệ Thông minh ITS, cùng máy sấy ITS. (Ảnh: Ngọc Duy)
Sau khi nghiệm thu vào năm 2018, ông đưa sản phẩm ra thị trường ngay trong năm 2019. Đây là trường hợp thương mại hóa kết quả nghiên cứu tương đối nhanh.
Từ quá trình phát triển sản phẩm, ông Hiệp cho rằng hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ, trước hết là khoảng cách giữa nghiên cứu và nhu cầu thực tiễn.
Ông nhận thấy các đề tài nghiên cứu tại viện, trường đại học trước đây chưa xuất phát từ nhu cầu thực tiễn. Dù ý tưởng tốt, tạo ra sản phẩm nhưng sẽ không phù hợp với nhu cầu thị trường, khi nhà khoa học không gắn kết với thực tiễn. Vì thế, khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng rất lớn.
Hoạt động nghiên cứu lâu nay chỉ tập trung nhiều vào hàn lâm, trong khi nghiên cứu ứng dụng chưa được chú trọng tương xứng.
Theo ông, Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã đặt ra định hướng tháo gỡ điểm nghẽn này, yêu cầu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo xuất phát từ những bài toán thực tế, thay vì chủ yếu bắt đầu từ ý tưởng nghiên cứu trong viện, trường.
Làm rõ quyền sở hữu và lợi ích kinh tế
Một trong những khó khăn ThS. Hiệp từng trải qua là thủ tục sử dụng kinh phí nghiên cứu. Năm 2017, đề tài máy sấy ITS được ngân sách Nhà nước cấp khoảng 300 triệu đồng. Dù nguồn kinh phí không lớn, quá trình thực hiện vẫn phải trải qua nhiều thủ tục.
Ông cho rằng mình vẫn theo đuổi đề tài vì tâm huyết với nghiên cứu, song không phải nhà khoa học nào cũng có đủ điều kiện để tiếp tục khi phải dành nhiều thời gian cho thủ tục hành chính và yêu cầu giải ngân, thay vì tập trung nghiên cứu.
Để giải điểm nghẽn này, Nghị quyết 57 đã đặt ra định hướng đổi mới cơ chế tài chính cho khoa học, công nghệ. Trong đó có việc chuyển từ cấp phát theo kế hoạch sang cơ chế quỹ và khoán đến sản phẩm cuối cùng.
“Nếu được triển khai đồng bộ, những thay đổi này có thể giúp nhà khoa học chủ động hơn trong quá trình nghiên cứu và phát triển sản phẩm”, ThS Hiệp nhấn mạnh.

Cần xác định rõ quyền sở hữu đối với tài sản hình thành từ đề tài sử dụng ngân sách Nhà nước. (Ảnh: Ngọc Duy)
Bên cạnh đó, việc xác định quyền sở hữu đối với tài sản hình thành từ đề tài sử dụng ngân sách Nhà nước sau khi nghiên cứu kết thúc cũng được tháo gỡ.
Trước đây, theo cách tiếp cận tại Nghị định 70 năm 2018, cơ sở ứng dụng muốn sở hữu kết quả nghiên cứu phải hoàn trả 100% kinh phí Nhà nước đã đầu tư.
Nếu không hoàn trả, quyền sở hữu được giao cho cơ quan chủ trì, dù đơn vị này có thể không có nhu cầu tiếp nhận tài sản. Cơ chế đó có thể gây khó khăn cho việc tiếp tục khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 đã thay đổi cách tiếp cận theo hướng cơ quan chủ trì được quyền làm chủ sở hữu tài sản hình thành từ nhiệm vụ khoa học, công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước. Theo ông, việc xác định rõ chủ thể sở hữu tạo cơ sở thuận lợi hơn cho quản lý, khai thác và chuyển giao kết quả nghiên cứu.
ThS. Hiệp cũng cho rằng cơ chế phân chia lợi ích giữa tổ chức và nhà khoa học cũng có ý nghĩa quan trọng. Chẳng hạn, trường đại học có thể là chủ sở hữu kết quả nghiên cứu, trong khi nhà khoa học là tác giả.
“Việc làm rõ quyền sở hữu và lợi ích kinh tế không chỉ giúp tháo gỡ vướng mắc trong khai thác tài sản hình thành từ nghiên cứu mà còn tạo động lực để nhà khoa học theo đuổi các công trình có khả năng ứng dụng và thương mại hóa”, ThS Hiệp chia sẻ.
Tham khảo kinh nghiệm quốc tế về xác định tài sản
Vào cuối tháng 9/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về những khó khăn, vướng mắc trong định giá quyền sở hữu trí tuệ; phát triển thị trường, sàn giao dịch KHCN; thương mại hóa kết quả các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách Nhà nước.
Phó Thủ tướng đánh giá nguồn cung công nghệ từ các viện nghiên cứu, trường đại học còn hạn chế, trong khi khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu chưa cao. Doanh nghiệp chưa tham gia sâu vào quá trình đặt hàng, nghiên cứu và phát triển công nghệ.
Cùng với đó, cơ chế xác định, quản lý tài sản hình thành từ các nhiệm vụ KHCN sử dụng ngân sách Nhà nước còn chưa rõ, nhất là việc xác định tài sản công hay tài sản tư.

Bộ KH&CN cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế về quy định loại tài sản và phương án quản lý. (Ảnh: Ngọc Duy)
Hoạt động định giá, thẩm định giá quyền sở hữu trí tuệ còn thiếu cơ sở dữ liệu và thông tin giao dịch tham chiếu. Hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và khả năng kết nối của các sàn giao dịch KHCN còn hạn chế.
Từ những hạn chế được nhận định, Phó Thủ tướng yêu cầu Bộ KH&CN rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến định giá quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường, sàn giao dịch và thương mại hóa kết quả các nhiệm vụ KHCN và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách Nhà nước; trọng tâm là xác định rõ loại hình tài sản hình thành từ nhiệm vụ KHCN sử dụng ngân sách, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để quy định loại tài sản và phương án quản lý phù hợp.
Ngoài ra, Bộ cần nghiên cứu quy định về quyền sở hữu trí tuệ sau khi định giá và việc thương mại hóa các kết quả nhiệm vụ KHCN và đổi mới sáng tạo sử dụng ngân sách Nhà nước phải thực hiện giao dịch qua sàn giao dịch, nhằm công khai, minh bạch và phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu.









