Theo Thông tư sửa đổi, bổ sung về đánh giá học sinh phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12, từ 1/12, Sở GD&ĐT chủ trì xây dựng, thẩm định và cung cấp đề kiểm tra định kỳ chung đối với một số môn học đánh giá bằng điểm số do Sở lựa chọn.
Học sinh lớp 5 áp dụng vào cuối học kỳ I và cuối năm học; học sinh lớp 9, 12 vào cuối học kỳ I và cuối học kỳ II. Nhà trường chịu trách nhiệm tổ chức coi, chấm và tổng hợp kết quả.
Thêm thước đo chung để đánh giá học sinh
Trước đây, khi mỗi trường tự xây dựng đề kiểm tra, độ khó, khả năng phân hóa và cách thiết kế câu hỏi có thể khác nhau. Vì vậy, cùng một mức điểm ở hai trường chưa chắc phản ánh trình độ tương đương, ngay cả khi các trường cùng thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông.
Thầy Vũ Khắc Ngọc, giáo viên Hoá học tại Hà Nội cho rằng, thi chung đề là giải pháp cần thiết, có thể góp phần hạn chế tình trạng lạm phát điểm số, nhưng không phải giải pháp duy nhất. Theo thầy, cần phân biệt giữa chuẩn hóa công cụ đánh giá và chuẩn hóa chất lượng đánh giá.
“Đề thi có thể giống nhau nhưng nếu khâu coi thi, chấm thi và kiểm soát chất lượng không nghiêm túc, kết quả vẫn có thể thiếu khách quan”, thầy Ngọc lưu ý.

Quy định học sinh cuối cấp (lớp 5, 9, 12) làm đề kiểm tra chung của Sở Giáo dục và Đào tạo vào cuối học kỳ I, II hoặc cuối năm có hiệu lực từ 1/12 tới.
Quan điểm này cũng được cô Nguyễn Thị Minh Thúy, Hiệu trưởng Trường THCS và THPT Nguyễn Siêu (Hà Nội), nhấn mạnh. Theo cô, đề chung tạo cơ sở dữ liệu thống nhất để đánh giá mặt bằng chất lượng học tập, giúp nhà trường nhìn nhận sát thực tế hơn và điều chỉnh chương trình, phương pháp dạy học phù hợp.
Tuy nhiên, đề thi chung không tự động bảo đảm sự công bằng hay phản ánh chính xác năng lực học sinh. “Giá trị của kết quả còn phụ thuộc vào chất lượng đề thi và tính nhất quán, khách quan trong toàn bộ quy trình tổ chức thi, coi thi, chấm thi. Chỉ khi quy trình được thực hiện nghiêm túc, minh bạch và công bằng, kết quả đánh giá mới thực sự có giá trị, góp phần nâng cao độ tin cậy của học bạ”, nữ hiệu trưởng nêu quan điểm.
Đề chung là điều kiện cần, chưa đủ để khắc phục bệnh thành tích
Thầy Trần Mạnh Tùng, giáo viên Toán tại Hà Nội, cũng đồng tình với việc thi chung đề của Sở GD&ĐT nhằm hướng tới mục tiêu “học thật, thi thật, kết quả thật”. Trước đây, khi mỗi trường tự xây dựng đề, có thể xuất hiện những “thước đo” khác nhau: nơi ra đề dễ, nơi ra đề khó hoặc đề chưa sát yêu cầu cần đạt của chương trình.

Ảnh chụp Màn hình 2026-10-30 lúc 14.19.44.png
Một đề kiểm tra chung không đồng nghĩa với quy trình đánh giá hoàn toàn thống nhất. Nếu các trường vẫn trực tiếp chấm bài mà thiếu cơ chế kiểm tra, đối chứng, kết quả có thể tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi sự khác biệt trong cách vận dụng đáp án, biểu điểm
Thầy Trần Mạnh Tùng
Đề chung vì thế tạo ra mặt bằng tham chiếu thống nhất hơn, giúp học sinh, phụ huynh và nhà trường có thêm căn cứ nhìn nhận kết quả học tập.
Dù vậy, thầy Tùng cho rằng đây mới là điều kiện cần, chưa phải điều kiện đủ để giải quyết tình trạng “lạm phát” điểm số. Đề chung chủ yếu chuẩn hóa khâu xây dựng đề; trong khi kết quả cuối cùng còn phụ thuộc vào việc tổ chức kiểm tra, hướng dẫn chấm và giám sát chất lượng chấm thi.
“Một đề thi/ kiểm tra chung không đồng nghĩa với một quy trình đánh giá hoàn toàn thống nhất. Nếu các trường vẫn trực tiếp chấm bài mà thiếu cơ chế kiểm tra, đối chứng, kết quả có thể tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi sự khác biệt trong cách vận dụng đáp án, biểu điểm”, thầy Tùng nói.
Theo thầy Tùng, cần có hướng dẫn chấm chi tiết, thống nhất; tổ chức chấm chéo giữa giáo viên khi phù hợp; kiểm tra ngẫu nhiên bài đã chấm và chấm thẩm định tại một số trường. Những biện pháp này cần được thiết kế theo quy mô, điều kiện thực tế và quy định của ngành, thay vì chỉ dừng ở việc phát hành một đề thi giống nhau.
Không thể bỏ qua chìa khóa cốt lõi: Chất lượng dạy học
Một vấn đề khác được các chuyên gia lưu ý là chênh lệch kết quả giữa các trường không chỉ bắt nguồn từ cách ra đề, chấm điểm, mà còn có thể phản ánh khác biệt về điều kiện dạy và học.
Chuyên gia giáo dục Nguyễn Thanh Hải, tác giả cuốn “Cùng con bước qua các kỳ thi” nhận định, nếu chỉ thay đổi đơn vị ra đề mà không thay đổi cách đánh giá và tư duy chạy theo thành tích, ngành giáo dục có thể chuẩn hóa bài kiểm tra nhưng chưa khắc phục được những bất cập cốt lõi.
Bà Hải cho rằng, cần phân biệt giữa thống nhất chuẩn đầu ra và đồng nhất điều kiện học tập vì “học sinh cùng làm một đề không có nghĩa các em có cùng điều kiện tiếp cận kiến thức, chất lượng giáo viên hay cơ hội học tập”.
Bà cho rằng bên cạnh chuẩn hóa đề kiểm tra, cần chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, năng lực sư phạm của giáo viên, tăng cường chia sẻ kinh nghiệm giữa các trường và hỗ trợ những cơ sở còn khó khăn về đội ngũ, cơ sở vật chất.
Đồng thời, Sở GD&ĐT cần phân tích kết quả sau mỗi đợt kiểm tra để xác định nội dung học sinh còn yếu, trường nào cần hỗ trợ và nguyên nhân của những chênh lệch bất thường. Dữ liệu không nên chỉ được sử dụng để so sánh điểm số hoặc xếp hạng trường.
Thầy Vũ Khắc Ngọc cũng lưu ý, không nên sử dụng điểm trung bình của bài kiểm tra chung để xếp hạng các trường một cách máy móc. Một trường có điểm thấp hơn mặt bằng chung chưa đủ để kết luận chất lượng dạy học kém hơn, bởi kết quả còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đầu vào và điều kiện học tập.
Theo các nhà giáo, đề chung chỉ thực sự phát huy giá trị khi giúp ngành giáo dục nhận diện đúng vấn đề và có giải pháp cải thiện chất lượng dạy học.
Cuối cùng, giá trị của học bạ không thể được đánh giá chỉ bằng một kỳ kiểm tra. Học bạ phản ánh kết quả của quá trình đánh giá thường xuyên, định kỳ và sự tiến bộ của học sinh. Vì vậy, đề chung cần được đặt trong một hệ thống đánh giá trung thực, có kiểm soát và nhất quán.
Mục tiêu không phải làm cho điểm số thấp xuống hay tạo ra một bảng xếp hạng mới, mà là giúp mỗi điểm số có ý nghĩa tham chiếu đáng tin cậy hơn. Khi đó, đề kiểm tra chung cho các lớp cuối cấp (5, 9, 12) mới có thể trở thành công cụ hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục thay vì chỉ thay đổi cách tổ chức kiểm tra.











