Bất chấp những luận điệu xuyên tạc,Tuyên ngôn Độc lậpvẫn là văn kiện chính trị - pháp lý mang giá trị trường tồn. Sự kết tinh giữa tinh hoa nhân loại và bản sắc dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định quyền tự quyết của dân tộc, soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Nhận diện các thủ đoạn xuyên tạc, chống phá
Trong không khí toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hướng tới kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, các thế lực thù địch, phản động đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận giá trị của Tuyên ngôn Độc lập. Chúng tập trung chống phá vào ba khía cạnh chính:
- Xuyên tạc tính chính danh và sáng tạo; chúng rêu rao rằng Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và công bố chỉ là sản phẩm “sao chép”, “mượn lời phương Tây” vì có trích dẫn một số câu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789).
- Chúng phủ nhận vai trò của Tuyên ngôn trong tiến trình cách mạng và xây dựng đất nước. Một số quan điểm sai trái cố tình tuyên truyền rằng Tuyên ngôn Độc lập chỉ là “tuyên bố hình thức”, không mang lại thực quyền cho nhân dân, hoặc “không bảo đảm được các quyền tự do, dân chủ như đã nêu”.
- Chúng quy chụp các hạn chế trong quá trình phát triển để suy diễn rằng bản Tuyên ngôn “đã lỗi thời” và “không còn giá trị thực tiễn”.
Sự vận dụng sáng tạo và kế thừa tinh hoa nhân loại
Phản bác luận điệu cho rằng Tuyên ngôn Độc lập là “sao chép”, TS Nguyễn Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phân tích, mặc dù trong Tuyên ngôn Độc lập xuất hiện những đoạn trích dẫn của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1789), nhưng cho rằng đây là hành vi “sao chép phương Tây” là hoàn toàn phiến diện và thiếu cơ sở.
Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn không phải là hành động vay mượn thụ động, mà là sự vận dụng sáng tạo, khéo léo, mang ý nghĩa chiến lược. Thông qua các trích dẫn ấy, một mặt, Người khẳng định các giá trị phổ quát, bất hủ trong các bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp, mặt khác, Người đặt cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam trong khuôn khổ các giá trị nhân quyền phổ quát đã được thế giới công nhận, buộc các cường quốc, đặc biệt là Hoa Kỳ và Pháp, phải thừa nhận tính chính nghĩa cuộc đấu tranh của dân tộc ta.

TS Nguyễn Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học.
Quan trọng hơn, toàn bộ lập luận trong Tuyên ngôn, từ việc vạch trần tội ác thực dân Pháp, khẳng định quyền độc lập của dân tộc, đến tuyên bố khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đều xuất phát từ thực tiễn lịch sử và khát vọng độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.
Mỗi nội dung, mỗi lời tuyên bố đều kết tinh sâu sắc tinh thần khí phách của dân tộc Việt Nam qua mấy nghìn năm lịch sử, nhất là tinh thần độc lập, tự chủ, hòa hiếu từ Nam quốc sơn hà tương truyền của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.
“Điều đó chứng tỏ Tuyên ngôn Độc lập không sao chép máy móc mà kế thừa tinh hoa văn hóa chính trị Việt Nam và kế thừa các giá trị nhân quyền phổ quát thành công cụ pháp lý và chính trị để bảo vệ quyền dân tộc tự quyết, khẳng định tầm vóc trí tuệ và tư duy chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, nâng tầm Tuyên ngôn Độc lập thành văn kiện vừa mang tính toàn cầu, vừa mang đậm dấu ấn bản sắc và khát vọng của dân tộc Việt Nam. Bản Tuyên ngôn vì thế không chỉ có ý nghĩa khai sinh một quốc gia mới, mà còn trở thành một đóng góp đặc sắc cho phong trào giải phóng dân tộc và bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn thế giới”, TS Nguyễn Anh Tuấn khẳng định.

Người dân tự hào tham dự lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9.
Sức sống thực tiễn và giá trị soi đường trường tồn
Đối với cáo buộc Tuyên ngôn chỉ là “tuyên bố hình thức”, “không bảo đảm quyền lợi cho nhân dân”, TS Nguyễn Anh Tuấn khẳng định, đây là sự xuyên tạc trắng trợn, đi ngược thực tế lịch sử, cố ý tách rời bối cảnh lịch sử của những năm 1945 - 1954, khi đất nước vừa giành độc lập đã phải đối mặt với muôn vàn thử thách đến từ thù trong, giặc ngoài, nạn đói, và các cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân, đế quốc.
Chúng cố tình bỏ qua sự thật rằng, chính Tuyên ngôn Độc lập đã khơi dậy tinh thần đoàn kết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tạo nền tảng chính trị và tinh thần quan trọng để tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cũng như sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.
Hơn thế, bản Tuyên ngôn đã tạo nên nền tảng chính trị và cơ sở pháp lý cho việc xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân, đặt cơ sở để Hiến pháp 1946 ra đời, mở đường cho các thể chế bảo đảm quyền con người, quyền công dân được hiện thực hóa một cách sinh động, hiệu quả trong điều kiện vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Điều này là sự khẳng định những giá trị được tuyên bố trong Tuyên ngôn là mang định hướng chiến lược, không phải “lời hứa suông”.
Các quyền tự do, dân chủ, mưu cầu hạnh phúc mà bản Tuyên ngôn đề cập không phải chỉ là khẩu hiệu. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Vì vậy, ngay sau khi bản Tuyên ngôn Độc lập được đọc trên Quảng trường Ba Đình lịch sử, những quyền đó được hiện thực hóa từng bước thông qua việc xây dựng thể chế dân chủ nhân dân với tổng tuyển cử năm 1946; ban hành Hiến pháp năm 1946; mở rộng quyền tham gia chính trị, xã hội của người dân (phụ nữ, người lao động, dân tộc thiểu số); thực hiện các cuộc cải cách ruộng đất, giáo dục, y tế hướng tới giải phóng con người.
“Thực tiễn hơn 80 năm qua chứng minh, mọi bước tiến của đất nước từ thắng lợi trong kháng chiến, thống nhất non sông đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế đều gắn liền với nền tảng giá trị và tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập. Việc phủ nhận vai trò của Tuyên ngôn cũng đồng nghĩa với phủ nhận toàn bộ lịch sử đấu tranh và phát triển chính đáng của dân tộc Việt Nam”, TS Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh.
Các thế lực thù địch lấy những hạn chế, bất cập cục bộ như chênh lệch giàu nghèo, vi phạm cá biệt về thực thi dân chủ và bảo đảm quyền con người, hay bất cập trong quản trị để kết luận rằng Tuyên ngôn Độc lập “không còn ý nghĩa thực tiễn” là hoàn toàn sai lệch.
Theo TS Nguyễn Anh Tuấn, những khó khăn, thách thức hay bất cập trong quá trình phát triển đất nước là hiện tượng tất yếu, xuất hiện ở mọi quốc gia trong thời kỳ chuyển đổi và hội nhập sâu rộng.
Giá trị nhân văn của Tuyên ngôn Độc lập không nằm ở chỗ phản ánh trạng thái xã hội nhất thời, mà ở việc xác lập nguyên tắc nền tảng quyền độc lập, tự do, mưu cầu hạnh phúc của dân tộc và mỗi con người là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.

Trong những ngày này, Điện Biên rực rỡ cờ hoa chào đón Quốc khánh 2/9. (Ảnh: Vũ Lợi)
“Nguyên tắc ấy tiếp tục soi đường cho mọi chính sách phát triển của nhà nước Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chính tinh thần Tuyên ngôn là động lực để Đảng, Nhà nước không ngừng hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức quản trị, thúc đẩy bình đẳng và phát triển bền vững, xác lập, vận hành xã hội vì con người, do con người.
Vì vậy, những luận điệu quy chụp, lợi dụng các vấn đề xã hội bất cập để hạ thấp giá trị Tuyên ngôn thực chất chỉ nhằm kích động tâm lý bất mãn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và phục vụ mưu đồ “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động, thù địch”, TS Nguyễn Anh Tuấn bày tỏ quan điểm.
Bảo vệ giá trị Tuyên ngôn Độc lập không chỉ là nhiệm vụ chính trị nhất thời, mà là trách nhiệm lịch sử lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, nhằm củng cố nền tảng tư tưởng, giữ vững độc lập, tự do và hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” như Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã xác định.




