Áp lực khi đó dồn vào hai môn Toán và Ngữ văn, trong khi những môn không thi có nguy cơ bị học sinh “bỏ rơi”.
Bỏ một môn, áp lực chưa chắc giảm
Bộ GD&ĐT đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư thay thế Quy chế tuyển sinh THCS và tuyển sinh THPT. Đáng chú ý, dự thảo đề xuất tuyển sinh THPT công lập với 2 môn thi là Toán và Ngữ văn.
Thầy Đinh Đức Hiền, chuyên gia giáo dục, Giám đốc điều hành Trường TH, THCS, THPT FPT Bắc Giang, cho rằng trước khi quyết định thi bao nhiêu môn, cần trả lời 3 câu hỏi: “Vì sao cần thay đổi? Thay đổi giải quyết được vấn đề gì? Và tác động dài hạn của sự thay đổi đối với việc dạy và học ra sao?“
Theo thầy Hiền, nếu chỉ nhìn ở góc độ “ít môn hơn thì nhẹ hơn”, phương án này có sức thuyết phục nhất định. Tuy nhiên, áp lực lớn nhất của kỳ thi vào lớp 10 không nằm ở việc thi 2 hay 3 môn, mà nằm ở mức độ cạnh tranh giữa số người muốn vào và số chỗ học.
Nếu số học sinh cạnh tranh vẫn như cũ, giảm một môn chủ yếu làm giảm khối lượng ôn tập, chứ chưa chắc giảm được áp lực cạnh tranh. Thậm chí, khi chỉ còn Toán và Ngữ văn, giá trị của từng 0,25 điểm ở hai môn này sẽ tăng lên. Nhu cầu học thêm rất có thể không giảm mà chỉ dịch chuyển mạnh hơn về Toán và Văn.
“Muốn giảm áp lực thi cử, cần tìm đúng nguồn tạo ra áp lực, chứ không chỉ giảm số môn thi”, thầy Hiền nêu quan điểm.
Một vấn đề khác được thầy Hiền đặc biệt lưu ý là kỳ thi không chỉ đo việc học mà còn định hướng việc học. “Về nguyên tắc phải là: Học gì - thi nấy. Nhưng thực tế nhiều năm cho thấy một quy luật rất mạnh: Thi gì - học nấy”, thầy phân tích. Môn nào quyết định cơ hội vào lớp 10 thì học sinh dành nhiều thời gian hơn, phụ huynh đầu tư nhiều hơn, nhà trường quan tâm nhiều hơn và thị trường luyện thi cũng tập trung vào đó.

Áp lực lớn nhất của kỳ thi vào lớp 10 không nằm ở việc thi 2 hay 3 môn, mà nằm ở mức độ cạnh tranh giữa số người muốn vào và số chỗ học.
Vì vậy, câu hỏi không chỉ là Toán và Văn có đủ để phân loại học sinh hay không. Một đề thi tốt hoàn toàn có thể phân loại. Nhưng nếu nhiều năm chỉ thi Toán và Văn, học sinh THCS sẽ thay đổi cách học như thế nào? Theo thầy Hiền, đó mới là tác động dài hạn mà chính sách cần tính đến.
TS Đỗ Đình Đảo, Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Hữu Thọ (TP.HCM), cũng lưu ý nguy cơ lệch trọng tâm trong dạy và học nếu chỉ thi Toán và Ngữ văn. Khi hai môn trở thành môn thi duy nhất, rất dễ xuất hiện tâm lý “môn thi thì học nhiều, môn không thi thì học ít”. Nếu điều này xảy ra trên diện rộng, mục tiêu giáo dục toàn diện của Chương trình GDPT 2018 có thể bị tác động.
Không chỉ chuyện thi cử, mà còn là hướng nghiệp
Từ câu chuyện này, thầy Hiền cho rằng cần đặt kỳ thi vào logic hướng nghiệp của Chương trình GDPT 2018. Theo đó, THCS là giai đoạn giáo dục cơ bản, còn THPT ngày càng tăng tính lựa chọn và định hướng nghề nghiệp. Nhưng muốn học sinh 15 tuổi lựa chọn đúng thì trước hết các em phải được học đủ rộng để biết mình mạnh ở đâu, thích gì và phù hợp với lĩnh vực nào.
“THCS, học sinh cần được trang bị kiến thức nền tảng ở tất cả các môn học. Nó không chỉ phục vụ cho tương lai xa sau này mà còn phục vụ cho chính mục tiêu hướng nghiệp THPT. Học sinh phải học, phải trải nghiệm thì mới biết mình phù hợp điều gì”, thầy Hiền phân tích.
Nếu từ lớp 8, lớp 9, các môn Khoa học tự nhiên, Ngoại ngữ, Tin học, Công nghệ hay Khoa học xã hội dần được xem là những môn “không thi”, sẽ khó kỳ vọng học sinh vẫn đầu tư và khám phá năng lực của mình một cách đầy đủ. “Hướng nghiệp không bắt đầu khi học sinh chọn môn ở lớp 10. Hướng nghiệp bắt đầu từ việc tạo đủ trải nghiệm để các em hiểu chính mình”, thầy Hiền nêu.
Thầy Hiền cũng đặt vấn đề trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được xác định là những động lực chiến lược của đất nước. Nguồn nhân lực cho AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, robot hay công nghệ số không bắt đầu từ đại học. Nó bắt đầu từ việc một học sinh THCS có còn tò mò trước một thí nghiệm khoa học, một hiện tượng vật lý, một vấn đề sinh học hay một đoạn mã lập trình hay không.
“Toán rất quan trọng. Nhưng STEM không chỉ có Toán”, thầy Hiền lưu ý. Nếu ở tầm chiến lược đang khuyến khích thế hệ trẻ đi vào khoa học - công nghệ, trong khi kỳ thi cuối THCS lại vô tình phát tín hiệu rằng ngoài Toán và Văn, các lĩnh vực khác ít ảnh hưởng đến cánh cửa tiếp theo, có thể xuất hiện độ vênh về thông điệp chính sách cần được cân nhắc. Để đến lựa chọn vào đại học thực ra là muộn”, thầy Hiền nói.
Từ những phân tích trên, thầy Hiền nghiêng về phương án Toán, Ngữ văn và một bài đánh giá nền tảng tổng hợp ở mức độ hợp lý. Điểm quan trọng là bài thi thứ ba không nên trở thành một “bài thi nhiều môn”. Nếu đề thi gồm một ít Lý, Hóa, Sinh, Sử, Địa, Anh, Tin với những yêu cầu kiến thức riêng biệt, phụ huynh có thể lại phải cho con học thêm từng môn. Khi đó, bài thi nhằm hạn chế học lệch lại có thể tạo ra “học thêm diện rộng”.
Theo thầy Hiền, bài đánh giá nền tảng cần tránh kiểm tra kiến thức chuyên sâu từng môn, không đánh đố, không tạo lợi thế cho mẹo luyện thi; thay vào đó tập trung vào đọc hiểu dữ liệu, suy luận, giải quyết vấn đề và những tình huống khoa học, xã hội, ngoại ngữ, công nghệ quen thuộc.
Kiến thức chỉ nên ở mức cơ bản, học đúng chương trình trên lớp có thể làm được. Cách tốt nhất để chuẩn bị cho bài thi phải là học thật, học đều trong suốt những năm THCS, thay vì chạy đi luyện riêng từng môn vào những tháng cuối.
Tiếng Anh không thi, động lực học sẽ ra sao?
Một câu hỏi khác được đặt ra khi bàn về phương án chỉ thi Toán và Ngữ văn là Tiếng Anh sẽ được duy trì động lực học tập như thế nào, trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu đưa Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Thầy Hiền cho rằng không thể đưa Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai chỉ bằng một kỳ thi. Thậm chí, luyện đề quá mức còn có thể làm méo mó việc học ngoại ngữ. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, thi cử vẫn có sức mạnh rất lớn trong việc định hướng hành vi học tập. “Không nhất thiết phải thi Tiếng Anh. Nhưng nếu không thi, cần có cơ chế khác đủ mạnh để mục tiêu chính sách và hành vi học tập không đi theo hai hướng khác nhau“, thầy Hiền phân tích.
Cô Kim Anh, giáo viên dạy Tiếng Anh tại Hà Nội, lại nghiêng về phương án giữ cố định 3 môn Toán, Ngữ văn và Ngoại ngữ. Theo cô, học ngoại ngữ là quá trình tích lũy liên tục. Việc duy trì Ngoại ngữ trong nhóm môn thi góp phần tạo nếp học và nền tảng cho học sinh. “Học ngoại ngữ là quá trình tích lũy liên tục. Nếu không thi Tiếng Anh vào lớp 10, học sinh rất dễ buông lỏng môn này trong suốt 4 năm cấp 2“, cô Kim Anh nói.
TS Lê Viết Khuyến tiếp cận câu chuyện từ một góc độ khác: sự chênh lệch trình độ Tiếng Anh giữa các vùng miền. Theo ông, qua phân tích phổ điểm Tiếng Anh có thể nhận thấy sự phân hóa khá rõ. Những khu vực có điều kiện thuận lợi như Hà Nội, TP.HCM có mặt bằng cao hơn, trong khi nhiều khu vực nông thôn có phổ điểm thấp hơn.
Từ đó, TS Khuyến cho rằng không nhất thiết phải áp dụng một phương án giống nhau cho mọi địa phương. Với Hà Nội, TP.HCM và những nơi có điều kiện thuận lợi, có thể nghiên cứu 3 môn bắt buộc gồm Toán, Ngữ văn và Tiếng Anh. Trong khi đó, ở các khu vực khác, có thể giữ Toán và Ngữ văn là hai môn bắt buộc, đồng thời có thêm một môn thứ ba theo hình thức tự chọn.
Trên mạng xã hội, những ngày qua, vấn đề này cũng thu hút nhiều tranh luận, với nhiều luồng quan điểm khác nhau. Một số phụ huynh cho rằng nên giữ Tiếng Anh trong kỳ thi để tạo động lực học tập; một số khác lo học sinh sẽ mất gốc nếu môn này không còn được thi. Ở chiều ngược lại, có ý kiến cho rằng quá coi Tiếng Anh như một môn thi cũng có thể khiến việc học nặng về ngữ pháp, viết và luyện thi, trong khi mục tiêu của ngoại ngữ là giao tiếp.
Tranh luận về kỳ thi vào lớp 10 không đơn thuần là câu chuyện thi 2 hay 3 môn. Điều quan trọng hơn là kỳ thi sẽ tác động thế nào đến cách học, cách dạy và định hướng phát triển của học sinh. Như thầy Hiền đặt vấn đề: Kỳ thi này đang phục vụ mục tiêu giáo dục nào và sẽ khiến học sinh học như thế nào? Thi cử suy cho cùng chỉ là công cụ; điều cần được bảo đảm là mục tiêu giáo dục phía sau kỳ thi.
Bạn nghĩ gì về điều này? Hãy chia sẻ ở box bình luận bên dưới.





















