Sau hơn một năm rưỡi thực hiện Nghị quyết 57, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang được nhiều địa phương cụ thể hóa thành chương trình, mô hình gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị quyết xác định đây là động lực chính để phát triển, đồng thời yêu cầu đổi mới quản trị, tăng đầu tư và tháo gỡ rào cản cho nghiên cứu, ứng dụng công nghệ.
Tuy nhiên, tốc độ triển khai giữa các địa phương chưa đồng đều. Một số cơ chế mới như quỹ phát triển khoa học công nghệ, đầu tư mạo hiểm, sandbox hay tự chủ trong nghiên cứu vẫn còn vướng khi áp dụng.

UAV thử nghiệm giao nông sản qua sườn núi dốc ở Điện Biên. (Ảnh: Bộ KH&CN)
Chọn công nghệ từ thực tiễn của địa phương
Điện Biên là một trong những địa phương lựa chọn thử nghiệm công nghệ gắn với điều kiện đặc thù. Tháng 6/2026, UBND tỉnh cấp phép thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số phát triển kinh tế tầm thấp bằng phương tiện bay không người lái (UAV).
Chương trình kéo dài đến hết tháng 5/2027, dự kiến khoảng 6.000 chuyến bay, hướng đến các ứng dụng trong nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa, vật tư y tế, quản lý tài nguyên và một số lĩnh vực khác.
Dữ liệu thu được từ quá trình thử nghiệm cũng được kỳ vọng cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện chính sách đối với lĩnh vực kinh tế tầm thấp.
Thay vì chỉ ứng dụng một công nghệ mới, cách làm này cho phép địa phương sử dụng cơ chế sandbox để kiểm chứng công nghệ và mô hình kinh doanh trong môi trường thực tế trước khi mở rộng. Với địa bàn miền núi, giao thông khó khăn như Điện Biên, UAV đồng thời được thử nghiệm để giải quyết những bài toán cụ thể về vận chuyển, sản xuất và quản lý.
Ở Đà Nẵng, việc cụ thể hóa Nghị quyết 57 lại tập trung nhiều vào quản trị đô thị, dịch vụ công và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Thành phố triển khai 27 dịch vụ hành chính công chủ động trong năm 2025 và tiếp tục thí điểm 43 dịch vụ mới trong năm 2026. Hệ thống giám sát, điều hành thông minh được xác định là một nền tảng phục vụ quản trị và ra quyết định của chính quyền.
Tại Đồng Nai, trung tâm công nghiệp lớn ở phía Nam, Nghị quyết 57 được cụ thể hóa theo hướng gắn khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo với hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Trong kế hoạch triển khai năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu tăng liên kết giữa nghiên cứu, ứng dụng và thị trường, thúc đẩy chuyển giao, làm chủ công nghệ, tập trung vào các lĩnh vực có thế mạnh như sản xuất, chế biến nông lâm sản, công nghiệp hỗ trợ, logistics và kinh tế tầm thấp.
Đồng Nai cũng đặt mục tiêu phát triển thêm ít nhất 10 doanh nghiệp khoa học công nghệ, 20 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và có ít nhất 60 sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa trong năm. Qua đó, khoa học công nghệ được đặt trực tiếp vào bài toán nâng cao năng lực của khu vực sản xuất và doanh nghiệp, thay vì tách rời khỏi nhu cầu thị trường.
Những phương thức triển khai khác nhau cho thấy chính sách khoa học công nghệ ở địa phương không nhất thiết bắt đầu bằng một công nghệ giống nhau.
Chia sẻ với Báo điện tử VTC News, TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng KH&CN, Chủ tịch Hội tự động hóa Việt Nam, cho rằng, một trong những việc đầu tiên địa phương cần làm là xác định sản phẩm chủ lực dựa trên thế mạnh, sau đó lựa chọn người có khả năng thực hiện, đầu tư đủ nguồn lực và trao quyền tự chủ.
Với những dự án lớn, địa phương có thể nghiên cứu áp dụng mô hình tổng công trình sư để tập hợp lực lượng giải quyết bài toán cụ thể.
Cách tiếp cận này cũng phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết 57 về tập trung nguồn lực, tránh đầu tư dàn trải. Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu kinh phí R&D đạt 2% GDP, trong đó nguồn xã hội chiếm hơn 60%; đồng thời bố trí ít nhất 3% tổng chi ngân sách hằng năm cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

TS. Nguyễn Quân, nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Hội tự động hóa Việt Nam.
Nút thắt ở khâu thực thi
Theo TS Nguyễn Quân, khác biệt giữa các địa phương không chỉ đến từ tiềm lực kinh tế. Qua làm việc tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng, ông cho rằng vai trò của người đứng đầu có ảnh hưởng lớn đến khả năng đưa cơ chế mới vào thực tế.
“Bài học lớn nhất chính là người đứng đầu”, ông nói, cho rằng khi lãnh đạo lựa chọn đúng nội dung ưu tiên, chỉ đạo quyết liệt và nhận được sự phối hợp của bộ máy, việc triển khai từ các sở ngành xuống cấp cơ sở sẽ thuận lợi hơn. Các đô thị lớn cũng có điều kiện vận dụng những cơ chế đặc thù đã được Trung ương và Quốc hội cho phép.
Tuy nhiên, quyết tâm của lãnh đạo mới là một phần của bài toán. Nguồn lực, năng lực cán bộ và đặc biệt là cơ chế tài chính vẫn có thể trở thành điểm nghẽn.
TS. Nguyễn Quân dẫn ví dụ quỹ phát triển KHCN - một công cụ không mới nhưng theo quan sát của ông, nhiều địa phương vẫn chưa thành lập. Với những cơ chế mới hơn như quỹ đầu tư mạo hiểm hay sandbox, số địa phương mạnh dạn triển khai còn hạn chế.
Trong khi đó, các quỹ có thể tạo nguồn tài chính cho nghiên cứu ứng dụng, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và huy động thêm nguồn lực xã hội.
Một vấn đề khác là thời gian từ lúc xuất hiện nhu cầu nghiên cứu đến khi nhà khoa học nhận được kinh phí. Theo TS. Nguyễn Quân, nếu nhiệm vụ vẫn phải trải qua các bước lập kế hoạch, thuyết minh, dự toán, thẩm định, phê duyệt và bố trí ngân sách như dự án đầu tư thông thường, quá trình có thể mất một năm đến một năm rưỡi.
Khoảng trễ này đặc biệt bất lợi với nghiên cứu ứng dụng, bởi nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường thay đổi nhanh.
“Nếu các nhà khoa học phải chờ đợi một, hai năm mới nhận được kinh phí thì vấn đề cần giải quyết có thể đã lạc hậu”, nguyên Bộ trưởng KH&CN nhận định.
Từ cấp tiền đến tạo môi trường cho đổi mới
Để khắc phục tình trạng trên, TS Nguyễn Quân cho rằng các địa phương cần đẩy mạnh cơ chế quỹ. Nguồn kinh phí cần sẵn sàng khi nhiệm vụ được phê duyệt; phần chưa sử dụng được chuyển sang năm sau và nhiệm vụ được quyết toán theo hợp đồng thay vì phải chạy theo từng năm tài chính.
Cách làm này, có thể khắc phục tình trạng kinh phí được giao vào giữa hoặc cuối năm nhưng đến tháng 12 đã phải quyết toán, trong khi hoạt động nghiên cứu, mua sắm thiết bị hoặc thử nghiệm công nghệ có thể kéo dài hơn.
Song tiền chưa phải điều kiện duy nhất. Một yếu tố khác là khả năng thu hút người làm khoa học. TS Nguyễn Quân cho rằng chính sách đãi ngộ không nên chỉ tính bằng mức lương, mà cần bao gồm môi trường nghiên cứu, cơ sở vật chất, quyền tự chủ, khả năng mời cộng sự trong và ngoài nước, mua công nghệ, sáng chế và tiếp cận tài liệu cần thiết.




