Xuất bản ngày 22/09/2026 10:28 AM

Huy động nhiều nguồn vốn để ‘bơm’ cho dự án lớn, trọng điểm thế nào?

(VTC News) -

Giai đoạn 2025 – 2030, Việt Nam cần khoảng 245 tỷ USD cho các dự án lớn, trọng điểm và cần huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau.

Đa dạng dòng vốn

Hiện nay, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng có ý nghĩa sống còn đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi quy mô vốn càng lớn càng tiềm ẩn nhiều khó khăn trong huy động.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, phát triển hạ tầng quá nhanh sẽ tạo ra áp lực lên bảng cân đối kế toán và sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Do đó, để Việt Nam vừa đạt tốc độ phát triển hạ tầng mạnh mẽ vừa có sự ổn định bền vững cho khu vực tài chính sẽ là bài toán khó.

Nhiều dự án trọng điểm sử dụng nguồn vốn lớn. (Ảnh: Lương Ý)

Nhiều dự án trọng điểm sử dụng nguồn vốn lớn. (Ảnh: Lương Ý)

Ông Nguyễn Xuân Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho biết, hạ tầng giao thông cần đi trước để mở ra không gian phát triển mới, kéo theo giao thương và kinh tế - xã hội.

Để phát triển hạ tầng thì nguồn vốn là rất quan trọng. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại chủ yếu là ngắn hạn, trong khi các dự án hạ tầng có quy mô vốn rất lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Tín dụng ngân hàng là huyết mạch nhưng không thể là nguồn vốn duy nhất.

“Chúng ta phải huy động tổng lực, đồng bộ từ ngân sách nhà nước, vốn ngân hàng, vốn ODA, vốn vay tổ chức quốc tế và nhà đầu tư nước ngoài”, ông Bắc nói.

Theo ông Bắc, NHNN đã triển khai nhiều giải pháp linh hoạt như: quy định cho vay hợp vốn để tài trợ dự án lớn; trình Chính phủ cơ chế cho vay vượt giới hạn đối với các dự án đặc biệt quan trọng; nâng tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%; và loại trừ một số chỉ tiêu tín dụng đối với các dự án trọng điểm quốc gia có tính lan tỏa vùng.

Cũng theo ông Bắc, yếu tố quan trọng nhất để thu hút vốn là dự án phải có tính khả thi và rủi ro chấp nhận được. Bản chất các dự án hạ tầng thường có hiệu quả tài chính trực tiếp thấp nhưng hiệu quả kinh tế - xã hội lại rất lớn. Mấu chốt chính sách là phải thiết kế cơ chế chia sẻ lợi ích gia tăng và chia sẻ rủi ro hài hòa giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người dân.

Ngân hàng đứng ra thu xếp vốn

Trước bài toán về nguồn vốn cho các dự án trọng điểm, bà Nguyễn Thu Lan, Phó Chủ tịch HĐQT Techcombank chia sẻ, không một tổ chức hay nguồn vốn đơn lẻ nào có thể gánh vác toàn bộ nguồn vốn này. Quan trọng nhất là Việt Nam cần có một cấu trúc tài chính thông minh, kết hợp chặt chẽ giữa các nguồn vốn, hình thức tài trợ và thời gian nhàn rỗi của dòng tiền.

Nhiều dự án lớn đang được triển khai trên khắp cả nước. (Ảnh: Đ.V)

Nhiều dự án lớn đang được triển khai trên khắp cả nước. (Ảnh: Đ.V)

Theo bà Lan, ngân hàng này đang chuẩn bị năng lực để đóng vai trò là nhà thu xếp vốn, giúp kết nối dòng vốn tốt nhất, thời gian đáp ứng tối ưu và chi phí hợp lý cho các chủ đầu tư dự án hạ tầng tại Việt Nam. Ngân hàng đã có sự chuẩn bị chiến lược từ hơn một năm qua để đồng hành cùng các chương trình hạ tầng cấp quốc gia.

Đối với các dự án hạ tầng lớn, ngân hàng này chọn cách tiếp cận theo từng giai đoạn: khởi đầu bằng nguồn vốn ngắn và trung hạn để triển khai nhanh chóng, sau đó phối hợp với các cơ quan quản lý và các tổ chức quốc tế để thu xếp bước vốn thứ hai dài hạn hơn, tiếp cận trực tiếp sâu rộng vào thị trường vốn quốc tế.

“Đối với các dự án đầu tư công, ngân hàng chúng tôi mong muốn tham gia không chỉ với tư cách là nhà cung cấp tín dụng, mà còn là nhà tư vấn tài chính, nhà thu xếp vốn hỗ trợ chính quyền phát hành trái phiếu chính quyền địa phương. Và đặc biệt là thúc đẩy phát hành trái phiếu chính phủ cho các dự án lớn nhằm huy động nguồn vốn công trong nước và quốc tế cho đầu tư dài hạn”, bà Lan nói.

Để khơi thông dòng vốn dài hạn, việc phát hành trái phiếu chính phủ cho các dự án lớn được xem là giải pháp then chốt giúp giảm gánh nặng tín dụng lên hệ thống ngân hàng, đồng thời thu hút các nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài nước.

Báo cáo nghiên cứu của VIS Rating và Quỹ bảo lãnh tín dụng CGIF cho thấy, giai đoạn 2025-2030, Việt Nam dự kiến cần khoảng 245 tỷ USD cho các dự án phát triển hạ tầng quan trọng. Trong đó, nguồn vốn đầu tư công dự kiến huy động khoảng 176 tỷ USD.

Trong những năm qua, đầu tư tư nhân đã và đang trở thành động lực chính, chiếm hơn 50% tổng vốn đăng ký đầu tư tài sản cố định trong những năm gần đây. Trong khi đó, vai trò của kênh tín dụng ngân hàng đối với các dự án hạ tầng đang có xu hướng giảm.

Để thu hút nguồn vốn tư nhân, Chính phủ đã và đang thực hiện nhiều cải cách quan trọng về khung pháp lý. Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) sửa đổi đã cho phép các doanh nghiệp dự án hạ tầng được chào bán trái phiếu riêng lẻ và niêm yết ngay sau khi phát hành. Đồng thời, Nhà nước cũng đang tăng mức đóng góp vốn chủ sở hữu trong các dự án để giảm gánh nặng nợ và nâng cao chất lượng tín nhiệm cho doanh nghiệp.

Nền kinh tế cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng

Tại hội thảo về phát triển thị trường vốn mới đây, TS Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế - tài chính cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 10% đến năm 2030, tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, khu vực tư nhân trong và ngoài nước phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, tương đương 65% tổng nhu cầu vốn.

Theo TS Cấn Văn Lực, nguồn lực tài chính hiện chủ yếu đến từ tín dụng ngân hàng. Vì vậy, cần tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng cân bằng hơn, đa dạng hơn để thị trường vốn phát triển nhanh hơn, đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn