Đó là những chia sẻ của TS. Nguyễn Quân, Nguyên Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Chủ tịch Hội tự động hóa Việt Nam về vai trò của dữ liệu đối với nền kinh tế số, trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển KHCN, ĐMST và CĐS hiện nay.
Kích hoạt dòng tiền thực từ dòng dữ liệu số
Báo cáo e-Conomy SEA 2025 cho thấy tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế số Việt Nam khi đạt 39 tỷ USD, tăng từ 34 tỷ USD năm 2024 và 30 tỷ USD năm 2023. Trong đó, thương mại điện tử đóng vai trò dẫn dắt khi tăng lên 25 tỷ USD năm 2025.
Dự báo tới năm 2030, tổng giá trị nền kinh tế số Việt Nam có thể đạt từ 85 đến 190 tỷ USD. Sự tăng trưởng mạnh mẽ này có vai trò không nhỏ từ việc xử lý dữ liệu số và các công nghệ hiện đại.

Dữ liệu là “quyền lực mềm”, là gốc của nền kinh tế số. (Ảnh minh hoạ: AI)
Thực tế, trong thương mại điện tử, mỗi lượt cuộn trang, thời gian người dùng dừng lại ngắm nhìn một đôi giày, hay danh sách món đồ ném vào giỏ hàng nhưng chưa bấm mua... đều tạo ra vết tích dữ liệu. Các thuật toán gợi ý (Recommendation Engine) tiêu thụ nguồn dữ liệu này để ngay lập tức hiển thị chiếc áo đúng gu mà người dùng đang tìm.
Nhờ vậy, tỷ lệ chuyển đổi đơn hàng tăng vọt có khi tới 30-40%, doanh nghiệp tối ưu lượng hàng tồn kho và chi phí logistics. Rõ ràng, dữ liệu không còn là tập tệp tĩnh, nó chính là chìa khóa kích cầu mua sắm.
Không chỉ kích cầu mua sắm, theo bà Lê Hoàng Oanh, Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số - Bộ Công Thương, đối với thương mại điện tử, dữ liệu là nền tảng quan trọng để giám sát thị trường, phát hiện vi phạm, giải quyết tranh chấp và xây dựng môi trường thương mại điện tử minh bạch, an toàn, phát triển bền vững.
Trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng, trước đây, để thẩm định một khoản vay 50 triệu đồng, ngân hàng phải mất từ 3-5 ngày để nhân viên xác minh hợp đồng lao động, bảng lương và tài sản thế chấp. Nhưng hiện nay, nhờ kết nối Cơ sở dữ liệu từ hệ thống đánh giá tín dụng CIC (Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam), ngân hàng có thể chấm điểm tín nhiệm (Credit Scoring) của người vay chính xác chỉ sau vài cú nhấp chuột. Ngân hàng giảm thiểu rủi ro nợ xấu, người dân tiếp cận vốn minh bạch tức thì, dòng tiền trong nền kinh tế chu chuyển nhanh gấp hàng chục lần. Dữ liệu trong trường hợp này chính là vốn và niềm tin số.
Đó chỉ là một vài trong số rất nhiều những điểm sáng về tác động của dữ liệu đối với nền kinh tế số trong thời gian qua, khi vai trò của dữ liệu ngày càng được khẳng định như một “Quyền lực mềm” một “tài sản số” quan trọng của quốc gia.
Bước đột phá về thể chế
Năm 2026, tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã đi sâu vào thực tiễn bằng những hành động thể chế hóa vượt tiền lệ. Việt Nam không chỉ dừng lại ở bài toán “chuyển đổi số hành chính” mà đã chính thức xác lập tư duy chiến lược hoàn toàn mới: Coi dữ liệu là tư liệu sản xuất cốt lõi, là “quyền lực mềm” mới định hình sức cạnh tranh và quy mô của nền kinh tế số.
Nghị quyết nhấn mạnh, “Thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi, trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Việc phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc “hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí”; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu”. Đây là cơ sở quan trọng để các bộ ngành, địa phương áp dụng và triển khai các cơ chế, hành động thiết thực, hiệu quả cho việc phát triển KHCN, ĐMST và CĐS.
Một trong những minh chứng rõ nhất cho tinh thần Nghị quyết 57 là việc Bộ Công an chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định Quy định cơ chế đột phá phát triển cho hoạt động sáng tạo, khai thác dữ liệu của Trung tâm Sáng tạo, khai thác dữ liệu thuộc Trung tâm Dữ liệu quốc gia.
Dự thảo Nghị định quy định chi tiết toàn bộ “vòng đời dữ liệu” - từ thu thập, tạo lập, khai thác, chia sẻ, đến giao dịch và phát triển kinh tế dữ liệu. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh việc chuyển dữ liệu từ “tài nguyên” sang “tài sản” có thể tạo giá trị, đồng thời giúp Trung tâm có công cụ điều phối, đánh giá tác động và triển khai đồng bộ.
Dự thảo cũng xây dựng cơ chế phân chia giá trị gia tăng tạo ra từ dữ liệu giữa Nhà nước và doanh nghiệp khai thác, đồng thời thiết lập cơ chế kiểm soát rủi ro an ninh mạng, bảo vệ tối đa dữ liệu cá nhân và chủ quyền số quốc gia.
Dữ liệu đã không đơn thuần là những dòng mã nằm trong máy chủ. Khi được kết nối, khai thác và “thổi hồn” bằng công nghệ, nó trở thành quyền lực mềm giúp tối ưu hóa nguồn lực xã hội và định hình vị thế quốc gia.
Năm 2026, bằng việc kiên quyết tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và coi dữ liệu là tư liệu sản xuất cốt lõi, Việt Nam đang từng bước chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “quản lý dữ liệu” sang “kiến tạo giá trị kinh tế từ dữ liệu” - đưa dữ liệu thực sự trở thành động lực bứt phá cho nền kinh tế số.
Cần có một quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng cơ sở dữ liệu
Theo TS Nguyễn Quân, Nguyên Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Hội tự động hóa Việt Nam thì những năm qua, chúng ta rất quan tâm đến việc xây dựng dữ liệu cho nền kinh tế số.

TS Nguyễn Quân, Nguyên Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Nguyên Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ, Chủ tịch Hội tự động hóa Việt Nam.
Điển hình như việc triển khai Đề án 06 về dữ liệu dân cư đang phát huy tác dụng một cách hiệu quả, góp phần tích cực trong việc thực hiện chuyển đổi số quốc gia, chuyển đổi số các bộ ngành và địa phương, đồng thời thúc đẩy xã hội số, kinh tế số một các rõ rệt. “Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu quốc gia nói chung hiện nay vẫn còn bộc lộ một số vướng mắc”, TS Nguyễn Quân đặt vấn đề.
Theo nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ, nguyên nhân là chúng ta chưa ban hành được quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dữ liệu. Dữ liệu thì nhiều, ngành nào, lĩnh vực nào, doanh nghiệp nào cũng làm, nhưng lại thiếu một cấu trúc đồng bộ và thống nhất để tích hợp thành cơ sở dữ liệu quốc gia nhằm khai thác hiệu quả.
Do đó, khi cần tận dụng và khai thác thì có thể xảy ra những tình huống trục trặc. Đặc biệt, khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp (sáp nhập xã, phường, bỏ cấp huyện, sáp nhập tỉnh, thành phố), cơ sở dữ liệu ở các xã trước đây đã có (đất đai, dân cư, thủ tục hành chính) lại không tích hợp được do mỗi nơi làm theo một cấu trúc khác nhau. Tình trạng thiếu đồng bộ này khiến nhiều địa phương phải làm lại cơ sở dữ liệu từ đầu.
Với những phân tích kể trên, TS. Nguyễn Quân cho rằng, Việt Nam cần sớm có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia bắt buộc khi xây dựng cơ sở dữ liệu. Có cấu trúc đồng bộ thì mới dễ dàng tích hợp vào dữ liệu quốc gia. Khi đó, các nền tảng công nghệ số mới khai thác dữ liệu hiệu quả nhất và đem lại lợi ích tốt nhất cho sự phát triển về sau.
Cũng theo TS. Nguyễn Quân, trong lúc chưa có Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì có thể thống nhất áp dụng tiêu chuẩn quốc tế về cơ sở dữ liệu, tạo điều kiện sớm tích hợp cơ sở dữ liệu của các bộ ngành, địa phương phục vụ cho chuyển đổi số và kinh tế số.









