Ở thời phong kiến, người đàn ông có địa vị cao hơn hẳn phụ nữ, họ có quyền bỏ vợ (gọi là hưu thê hoặc xuất thê) nhưng vẫn phải tuân thủ quy trình mà pháp luật định ra.
Theo cổ luật Trung Hoa (bắt nguồn từ Chu lễ và hoàn thiện qua các triều đại như nhà Hán, nhà Đường), người chồng có quyền đuổi vợ hoặc chấm dứt hôn nhân chỉ khi người vợ phạm vào một trong 7 lỗi lớn (thường gọi là “thất xuất”).
Hôn lễ của một cặp đôi người Trung Quốc thời phong kiến.
7 lỗi này gồm: Bất hiếu (không phụng dưỡng, không làm tròn đạo dâu con đối với cha mẹ chồng), vô sinh (không có con trai nối dõi tông đường), dâm dật (ngoại tình hoặc có biểu hiện dâm đãng), ghen tuông vô lối (ngăn cản chồng nạp thiếp hoặc ghen tuông gây mất hòa khí trong gia đình), mắc bệnh hiểm nghèo (bị bệnh nặng, ác tính không thể chữa khỏi, ảnh hưởng đến đời sống hoặc việc thờ cúng tổ tiên), lắm lời (thường xuyên nói lời ly gián, gây mâu thuẫn giữa các anh em hoặc các thành viên trong họ hàng) và trộm cắp (trộm tài sản trong nhà đem cho người ngoài, cho nhà ngoại hoặc có hành vi trộm cắp).
Dù vợ có phạm vào “thất xuất”, chồng vẫn không được phép bỏ nếu người vợ thuộc một trong ba trường hợp bảo vệ gọi là “Tam bất khứ” gồm: Không nơi nương tựa (bố mẹ hoặc gia đình ruột thịt của người vợ đã qua đời hết), đang chịu tang 3 năm (vợ và chồng đang phải cùng chịu tang cha mẹ 3 năm); và lúc lấy nhau nhà trai còn nghèo khó, sau đó trở nên giàu có thì không được bỏ người vợ tào khang.
Trong xã hội Trung Quốc cổ đại, hưu thư chính là văn bản ly hôn đơn phương do người chồng viết để chính thức từ bỏ và đuổi vợ ra khỏi nhà. Hưu thư muốn có hiệu lực pháp lý và không bị chính quyền hay gia tộc bên vợ can thiệp thì người chồng phải làm thủ tục lập văn bản rất nghiêm ngặt gồm nhiều bước.
Một bức hưu thư chuẩn mực không thể viết tùy tiện mà bắt buộc phải cấu trúc rõ ràng theo các phần. Đầu tiên là nêu lý do ly hôn (căn cứ vào thất xuất); nếu không ghi rõ lý do hợp pháp, tờ hưu thư bị coi là vô hiệu, người chồng có thể bị quan phủ phạt gậy và ép phải đón vợ về. Tiếp đến là lời tuyên bố cắt đứt quan hệ, ghi rõ từ thời điểm này, hai bên không còn là phu thê, ân đoạn nghĩa tuyệt, đường ai nấy đi.
Cuối cùng là lời chúc phúc (sự nhân văn mang tính thủ tục). Dù là đơn đuổi vợ, cuối thư người chồng thường phải viết vài câu chúc vợ sau khi rời đi sẽ tìm được hạnh phúc mới, ví dụ: “Chúc nàng sau khi tái giá sẽ gặp được người tốt hơn, bách niên giai lão”. Điều này nhằm giảm bớt sự thù hận giữa hai gia tộc.
Sau lễ cưới, không phải cặp vợ chồng nào cũng ở được với nhau tới đầu bạc, răng long.
Để tránh việc người chồng giả mạo hoặc ép buộc vô lý, thủ tục lập hưu thư đòi hỏi sự chứng kiến của bên thứ ba. Sau khi tự tay viết hoặc nhờ thầy đồ viết đơn hộ, người chồng phải ký tên và lăn tay bằng mực đỏ, rồi phải trình báo lý do với cha mẹ mình hoặc tộc trưởng trong dòng họ. Tộc trưởng hoặc người làm chứng sẽ ký tên vào hưu thư để xác nhận việc trục xuất này đúng gia quy.
Khi trao hưu thư cho vợ, người chồng bắt buộc phải trả lại toàn bộ tài sản hồi môn (tiền bạc, trang sức, ruộng đất) mà người vợ mang từ nhà đẻ sang khi cưới. Nếu nhà chồng giữ lại của hồi môn, người vợ có quyền kiện lên quan phủ
Con cái (đặc biệt là con trai) thuộc về nhà nội, nên người vợ bị bỏ gần như không bao giờ được quyền mang con theo, trừ khi đứa trẻ còn quá nhỏ.
Sau khi người vợ nhận hưu thư và thu dọn đồ đạc, người chồng phải cử người hoặc đích thân mang một bản sao (hoặc thông báo) tới gia đình nhà đẻ của cô ấy để “trả người”, chấm dứt hoàn toàn mối quan hệ thông gia giữa hai họ.

Tranh vẽ cảnh một cặp vợ chồng người Trung Quốc cổ đại.
Đặc biệt, trái ngược với sự khắc nghiệt của hưu thư đơn phương, các nhà khảo cổ học Trung Quốc tìm thấy những bức “phóng thê thư” từ triều đại nhà Đường. Đây là dạng văn bản thuận tình ly hôn (hòa ly) với ngôn từ văn minh, dịu dàng: “Vì duyên kiếp lỡ dở, nay xin giải trừ trói buộc. Chúc nàng sửa sang dung nhan, tái giá với bậc cao môn, còn ta cũng tìm cuộc sống mới. Một cái vẫy tay, hai bên đều vui vẻ”.










