Đề xuất nằm trong dự thảo Thông tư ban hành danh mục thuốc dược liệu, thuốc kết hợp dược chất với dược liệu, thuốc cổ truyền và dược liệu thuộc phạm vi hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế, đang được lấy ý kiến đến ngày 18/9. Nếu được thông qua, đây sẽ là lần đầu sau 11 năm danh mục thuốc y học cổ truyền được đề xuất cập nhật đáng kể.
Theo dự thảo, danh mục thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền sẽ gồm 358 mục, tăng 129 thuốc so với danh mục hiện hành. Danh mục dược liệu có 344 mục, giảm 5 mục so với 349 vị thuốc cổ truyền đang được quy định. Danh mục hiện nay được thực hiện theo Thông tư 05/2015 và các nội dung sửa đổi, bổ sung năm 2020.
Điểm mới đáng chú ý là Bộ Y tế đề xuất một danh mục riêng gồm 35 thuốc kết hợp dược chất với dược liệu được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán. Đây là nhóm thuốc có cả thành phần của y học hiện đại và dược liệu. Mức thanh toán, phạm vi điều trị hoặc thời gian sử dụng sẽ được quy định khác nhau tùy từng thuốc.

Việt Nam có nền y học cổ truyền lâu đời. (Ảnh minh hoạ)
Theo bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Bảo hiểm Y tế (Bộ Y tế), thuốc hiện chiếm hơn 31% tổng chi của Quỹ bảo hiểm y tế, song phần dành cho thuốc y học cổ truyền chỉ khoảng 5,4%.
Mỗi năm, cả nước có khoảng 195 triệu lượt khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, tổng chi hơn 160.000 tỷ đồng. Trong số này, chi cho các dịch vụ khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền chỉ chiếm khoảng 3,3%. Trong khi đó, Việt Nam có nền y học cổ truyền lâu đời và mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh lĩnh vực này tiếp tục được duy trì, mở rộng.
Bà Trang cho rằng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã vượt 97% dân số trong quý I/2026, tạo điều kiện để mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ y học cổ truyền, nhất là tại tuyến xã và y tế cơ sở.
Cả nước hiện có 5 bệnh viện y học cổ truyền trực thuộc Bộ và các bộ, ngành; 61 bệnh viện tuyến tỉnh và 10 bệnh viện tư nhân. Ngành y tế đánh giá đầy đủ thực trạng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng y dược cổ truyền, kiểm soát hiệu quả sử dụng quỹ, đồng thời nâng chất lượng chuyên môn. Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại cũng được đặt ra nhằm mở rộng lựa chọn điều trị cho người bệnh, nhưng vẫn phải bảo đảm an toàn và hiệu quả.





