Xuất bản ngày 25/08/2026 12:30 PM

Miền Bắc mưa lớn, sạt lở liên tiếp: Cứu hộ không thể là tuyến phòng thủ đầu tiên

(VTC News) -

Các chuyên gia cho rằng muốn giảm thương vong do lũ quét, sạt lở đất, Việt Nam cần ưu tiên phòng ngừa từ sớm thay vì chỉ tập trung vào cứu hộ khi thiên tai xảy ra.

Video: Đường phố Lạng Sơn chìm trong biển nước, người dân chèo bè trên phố

Mưa lũ do bão số 4 đang gây thiệt hại tại nhiều tỉnh miền Bắc. Tính đến chiều tối 24/8, hơn 4.300 hộ dân phải sơ tán đến nơi an toàn, trong đó Lạng Sơn và Bắc Ninh là hai địa phương có số hộ di dời lớn nhất.

Tại nhiều khu vực miền núi, đất đã ngậm nước ở mức cao sau nhiều ngày mưa, khiến khả năng tiếp tục thấm nước giảm và nguy cơ lũ quét, sạt lở gia tăng.

Thực tế này cho thấy rủi ro không chỉ đến từ một cơn bão hay một đợt mưa đơn lẻ. Khi các tỉnh miền núi liên tiếp đối mặt với lũ quét, sạt lở, bài toán đặt ra là Việt Nam cần chuẩn bị ra sao để chủ động giảm thiểu thiệt hại, trước khi đất đá bất ngờ đổ xuống?

Lạng Sơn hứng đợt mưa lớn do ảnh hưởng của bão số 4, khiến nhiều khu vực ngập sâu.

Lạng Sơn hứng đợt mưa lớn do ảnh hưởng của bão số 4, khiến nhiều khu vực ngập sâu.

Từ “biết có nguy cơ” đến “biết phải làm gì”

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025, thiên tai làm 484 người chết và mất tích, gây thiệt hại kinh tế khoảng 102.665 tỷ đồng - mức tổn thất rất lớn trong nhiều năm gần đây.

Đáng chú ý, lũ quét và sạt lở đất tuy chỉ xảy ra trên phạm vi hẹp nhưng lại là loại hình thiên tai có tỷ lệ thiệt hại về người cao nhất do diễn biến đột ngột, tốc độ nhanh và rất khó dự báo.

Trả lời phóng viên Báo Điện tử VTC News, PGS.TS Trịnh Quang Toàn, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, cho rằng muốn giảm thiệt hại do lũ quét, sạt lở đất, cần chuyển mạnh từ ứng phó khi thiên tai xảy ra sang chủ động nhận diện, cảnh báo và phòng ngừa rủi ro.

Theo ông, điều đáng lo không chỉ là một trận lũ quét vừa xảy ra, mà là nguy cơ những thảm họa tương tự có thể tiếp tục xảy ra ở nhiều khu vực khác nếu các giải pháp phòng, chống thiên tai chưa theo kịp thực tế.

Ông cho rằng, nhiều năm qua các địa phương vẫn chủ yếu tập trung vào ứng cứu và khắc phục hậu quả sau thiên tai, trong khi đầu tư cho công tác phòng ngừa còn chưa tương xứng.

“Nếu đợi đến khi lũ quét xảy ra mới cứu hộ thì đã là quá muộn. Điều quan trọng nhất là làm sao người dân biết khu vực mình đang sống có nguy cơ hay không, khi nào cần sơ tán và phải đi đâu”, ông nói.

Bản đồ nguy cơ lũ quét, sạt lở đất đá trên các khu vực ngày 25/8. (Nguồn: NCHMF)

Bản đồ nguy cơ lũ quét, sạt lở đất đá trên các khu vực ngày 25/8. (Nguồn: NCHMF)

Theo vị chuyên gia, trên thế giới, nhiều quốc gia có điều kiện địa hình phức tạp như Nhật Bản hay Mỹ cũng thường xuyên đối mặt với lũ quét, sạt lở đất. Tuy nhiên, điều giúp họ giảm đáng kể thiệt hại không phải là ngăn được thiên tai, mà là xây dựng được hệ thống cảnh báo và ứng phó nhiều tầng.

Ông Toàn dẫn ví dụ, tại nhiều bang ở Mỹ, khi người dân di chuyển vào khu vực có nguy cơ, điện thoại có thể tự động phát cảnh báo để thay đổi lộ trình hoặc yêu cầu rời khỏi vùng nguy hiểm.

Tại Nhật Bản, người dân ở những khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai được tập huấn kỹ năng sơ tán từ rất sớm, biết phải chuẩn bị gì và di chuyển theo hướng nào khi có cảnh báo.

“Ở Việt Nam, nhiều nơi hàng chục năm mới xảy ra một trận lũ lớn nên người dân rất dễ chủ quan. Khi thiên tai xảy ra, không ít người còn lúng túng, không biết phải di chuyển ra sao, cần mang theo những gì hay tập trung ở đâu.

Năm ngoái tôi đi công tác ở Cao Bằng đúng lúc xảy ra mưa lũ. Đường bị chia cắt nhiều ngày. Khi thiên tai xảy ra, nhiều người dân không biết lái xuồng, không biết phải di chuyển thế nào, cần mang theo những gì. Đó là điều khiến tôi suy nghĩ rất nhiều”, PGS.TS Trịnh Quang Toàn nhận định.

Bên cạnh hệ thống cảnh báo sớm, việc trang bị kỹ năng ứng phó và sơ tán cho người dân là yếu tố quyết định để giảm thiểu thiệt hại khi lũ quét, sạt lở đất xảy ra.

Bên cạnh hệ thống cảnh báo sớm, việc trang bị kỹ năng ứng phó và sơ tán cho người dân là yếu tố quyết định để giảm thiểu thiệt hại khi lũ quét, sạt lở đất xảy ra.

Theo ông Toàn, muốn giảm thiểu thiệt hại, cảnh báo sớm phải đi kèm với khả năng hành động của cộng đồng. Nếu người dân không biết cách ứng phó thì dù dự báo có chính xác đến đâu cũng khó phát huy hiệu quả.

Sau nhiều năm khảo sát tại các tỉnh miền núi phía Bắc, PGS.TS Trịnh Quang Toàn cho rằng điều cấp bách hiện nay không phải là chờ đến khi xảy ra thiên tai mới đánh giá nguy cơ, mà phải rà soát lại toàn bộ các khu dân cư đang nằm dưới chân núi, ven suối và trong các thung lũng hẹp.

Đây đều là những vị trí thuận lợi để sinh sống, sản xuất nhưng cũng là nơi dễ hứng chịu lũ quét khi xuất hiện mưa cực đoan.

“Nếu đã xác định khu vực đó có nguy cơ rất cao thì phải tính đến phương án di dời. Không thể để người dân tiếp tục đánh cược tính mạng chỉ vì đó là nơi họ đã sinh sống từ nhiều thế hệ”, ông nói.

Bên cạnh quy hoạch lại dân cư, PGS.TS Trịnh Quang Toàn cho rằng Việt Nam cũng cần đầu tư mạnh hơn cho hệ thống cảnh báo sớm.

Nhìn từ những đợt mưa lũ gần đây, bài toán phòng ngừa không còn nằm ở việc có dự báo hay không. Câu hỏi quan trọng hơn là dự báo có đến đúng nơi, đúng người và đủ sớm để họ hành động hay không.

Đợt mưa lớn do bão số 4 cho thấy điều này rất rõ. Khi thiên tai xảy ra, các địa phương đã phải di dời 4.303 hộ dân đến nơi an toàn, trong đó Lạng Sơn 2.625 hộ và Bắc Ninh 1.423 hộ. Cùng với đó là hàng nghìn điểm ngập, sạt lở gây chia cắt giao thông.

Nếu những hệ thống cảnh báo, phương án sơ tán và kỹ năng cộng đồng được chuẩn bị từ trước, mỗi lần mưa lớn sẽ không phải là một cuộc chạy đua với thời gian.

Hiện nay, nhiều địa phương đã có dự báo mưa lớn, nhưng khoảng cách từ bản tin dự báo đến hành động của người dân vẫn còn khá xa. Điều người dân cần không chỉ là biết trời sắp mưa, mà phải biết khu vực mình đang ở có nguy hiểm hay không, khi nào phải sơ tán và di chuyển theo hướng nào.

Điều này đòi hỏi phải xây dựng hệ thống cảnh báo theo thời gian thực, kết hợp dữ liệu mưa, địa hình, dòng chảy và nguy cơ sạt lở để đưa cảnh báo đến tận người dân thông qua điện thoại, loa phát thanh hoặc các thiết bị cảnh báo tại cộng đồng.

Muốn giảm lũ quét, phải giữ “lá chắn xanh”

Nếu quy hoạch dân cư và cảnh báo sớm giúp giảm thiểu thiệt hại khi thiên tai xảy ra, thì về lâu dài, một trong những “lá chắn” quan trọng nhất vẫn là hệ sinh thái rừng.

GS.TS Nguyễn Quảng Trường, Phó Viện trưởng Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho rằng nhiều người vẫn quan niệm chỉ cần trồng thêm cây là có thể hạn chế lũ quét. Tuy nhiên, giữa rừng tự nhiên và rừng trồng tồn tại sự khác biệt rất lớn.

Theo ông, rừng tự nhiên có cấu trúc nhiều tầng, gồm cây gỗ lớn, cây bụi, thảm cỏ và lớp thảm mục dưới mặt đất. Chính cấu trúc này giúp nước mưa được giữ lại, thấm dần xuống đất, giảm tốc độ dòng chảy mặt và hạn chế xói mòn.

Ngược lại, khi sườn núi bị mất thảm thực vật hoặc chỉ còn những cánh rừng trồng thuần loài, nước mưa gần như chảy tràn trên bề mặt, cuốn theo đất đá xuống hạ lưu, làm gia tăng nguy cơ lũ quét và sạt lở.

“Khi hệ sinh thái bị phá vỡ, khả năng giữ đất, giữ nước và điều hòa dòng chảy cũng suy giảm theo. Vì vậy, bảo vệ rừng tự nhiên luôn là giải pháp hiệu quả nhất để giảm thiểu rủi ro thiên tai”, GS.TS Nguyễn Quảng Trường nhấn mạnh.

5791-13.2.jpg

5791-13.2.jpg

Bảo vệ rừng tự nhiên luôn là giải pháp hiệu quả nhất để giảm thiểu rủi ro thiên tai

GS.TS Nguyễn Quảng Trường

Theo ông Trường, bên cạnh việc giữ rừng đầu nguồn, cần hạn chế các hoạt động làm suy giảm hệ sinh thái như phát nương trên đất dốc, khai thác rừng trái phép hoặc can thiệp quá mức vào địa hình tự nhiên.

Đồng thời, vị chuyên gia cho rằng cần khuyến khích các mô hình canh tác thích ứng như ruộng bậc thang, trồng cỏ theo đường đồng mức hay các giải pháp giữ nước trên sườn dốc nhằm giảm xói mòn và điều tiết dòng chảy.

Những khuyến nghị này cũng phù hợp với định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong chiến lược phát triển lâm nghiệp và phòng, chống thiên tai.

Theo công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025, đến ngày 31/12/2025, Việt Nam có hơn 14,9 triệu ha đất có rừng, trong đó trên 10 triệu ha là rừng tự nhiên và hơn 4,9 triệu ha là rừng trồng.

Diện tích rừng đủ tiêu chí tính tỷ lệ che phủ đạt hơn 13,92 triệu ha, đưa tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc năm 2025 lên 42,03%. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, những con số về diện tích hay tỷ lệ che phủ mới chỉ phản ánh một phần bức tranh. Điều quan trọng hơn là chất lượng của rừng, đặc biệt là rừng tự nhiên và rừng phòng hộ đầu nguồn.

Đây mới là những “lá chắn xanh” có khả năng giữ đất, giữ nước, làm chậm dòng chảy mặt và giảm nguy cơ lũ quét, sạt lở đất. Nếu chỉ gia tăng diện tích bằng rừng trồng thuần loài, hiệu quả phòng hộ sẽ khó có thể so sánh với một hệ sinh thái rừng tự nhiên đa tầng, đa loài.

Nhìn rộng hơn, những giải pháp như quy hoạch lại khu dân cư, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm hay bảo vệ rừng đầu nguồn không thể được thực hiện riêng lẻ.

GS.TS Nguyễn Quảng Trường nhấn mạnh rằng đây phải là những mắt xích của một chiến lược thống nhất, trong đó dữ liệu khí tượng, thủy văn, địa chất, lâm nghiệp và quy hoạch phát triển được kết nối với nhau để nhận diện sớm rủi ro và chủ động bảo vệ người dân trước khi thiên tai xảy ra.

Đó cũng là sự chuyển đổi cần thiết từ tư duy “ứng phó sau thiên tai” sang “phòng ngừa từ trước thiên tai” - điều mà nhiều quốc gia có điều kiện địa hình tương đồng đã thực hiện từ nhiều năm nay. Khi phòng ngừa được đặt lên trước, cứu hộ sẽ không còn là “tuyến phòng thủ đầu tiên” và những thảm họa thiên tai mới có thể được hạn chế lặp lại.

Miền Bắc mưa lớn, sạt lở liên tiếp: Cứu hộ không thể là tuyến phòng thủ đầu tiên - 5
Nhận tin VTC News trên Google
Thêm VTC News làm nguồn ưu tiên để thấy tin tức mới thường xuyên hơn trên Google.
Theo dõi
Bình luận
paper plane
vtcnews.vn