Đầu tư lớn nhưng vận hành còn nhiều điểm nghẽn
Hệ thống 16 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia được đầu tư qua nhiều giai đoạn, trong đó nhiều thiết bị được mua sắm từ năm 2000-2010. Theo GS.TS Trần Thị Thanh Tú, Trưởng ban Khoa học và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, hệ thống này hiện chiếm khoảng 72% nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao, làm chủ khoảng 60% công nghệ lõi và đóng góp khoảng 50% số công bố quốc tế của cả nước.

Phòng sạch tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được đầu tư kinh phí lớn nhưng công tác vận hành còn gặp nhiều khó khăn.
Tuy nhiên, nhiều thiết bị đã cũ so với yêu cầu nghiên cứu mới, trong khi chu kỳ đổi mới công nghệ chỉ khoảng 3-7 năm. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, với kinh phí hoạt động thường xuyên chỉ khoảng 1,137 tỷ đồng/phòng thí nghiệm/năm, số tiền này chủ yếu đáp ứng điện, nước và vật tư tiêu hao, chưa đủ để duy trì đội ngũ nhân lực chất lượng cao và các chương trình nghiên cứu dài hạn.
Bên cạnh đó, nhân lực cũng là điểm nghẽn. Nhiều giảng viên phải đồng thời giảng dạy và nghiên cứu, trong khi một số phòng thí nghiệm thiếu kỹ thuật viên chuyên trách. Phần lớn phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia chưa có tư cách pháp nhân đầy đủ, chưa tự chủ về tài chính, nhân sự và chiến lược phát triển, hạn chế khả năng chủ động xây dựng kế hoạch nghiên cứu, duy trì thiết bị và mở rộng hợp tác.
Tại TP.HCM, hai phòng thí nghiệm trọng điểm được đầu tư từ năm 2003 đang đối mặt với tình trạng nhiều thiết bị hết khấu hao. PGS.TS Lâm Quang Vinh, Đại học Quốc gia TP.HCM cho biết, kinh phí khoa học và công nghệ hằng năm chưa đáp ứng nhu cầu vận hành; thủ tục mua sắm thiết bị, vật tư và hóa chất chuyên dụng còn phức tạp, kéo dài thời gian triển khai nghiên cứu.
Những hạn chế này tác động trực tiếp đến khả năng đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm. Giai đoạn 2014-2018, TP.HCM có 1.587 nhiệm vụ khoa học và công nghệ được nghiệm thu nhưng tỷ lệ thương mại hóa chỉ khoảng 10-13%. Khoảng 37% kết quả đã hoàn thiện, sẵn sàng chuyển giao nhưng chưa được đưa vào thực tiễn; khoảng 50% vẫn ở quy mô phòng thí nghiệm và cần tiếp tục thử nghiệm ở giai đoạn pilot (thử nghiệm thí điểm). Tính chung, tỷ lệ thương mại hóa các nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách Nhà nước chỉ khoảng 5%.
Nỗ lực đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường
Để rút ngắn khoảng cách sau nghiệm thu, doanh nghiệp cần tham gia sớm vào quá trình nghiên cứu, từ xác định bài toán, đặt hàng, phối hợp thử nghiệm đến đầu tư hoàn thiện sản phẩm.
PGS.TS Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), cho rằng mô hình liên kết “3 nhà” giữa Nhà nước, viện nghiên cứu - trường đại học và doanh nghiệp là một hướng phù hợp. Nhà khoa học tập trung nghiên cứu, làm chủ công nghệ; doanh nghiệp tham gia tích hợp công nghệ vào sản phẩm; Nhà nước tạo cơ chế, nguồn lực hỗ trợ và kết nối các bên.
Cũng theo PGS.TS Đào Ngọc Chiến, cơ chế tài chính cần phù hợp với những giai đoạn nghiên cứu có rủi ro cao và cần tiếp tục đầu tư sau khi đề tài kết thúc. Nghị định số 229/2026/NĐ-CP ngày 25/6/2026 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NAFOSTED quy định hoạt động tài trợ, đặt hàng, hỗ trợ của Quỹ được thực hiện thông qua đánh giá chuyên môn độc lập, bảo đảm tự chủ học thuật, khách quan, công khai, minh bạch; đồng thời xác định nguyên tắc chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong nghiên cứu.

PGS.TS Đào Ngọc Chiến, Giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia.
Với hệ thống phòng thí nghiệm, đầu tư cũng cần tính theo vòng đời. Thiết bị phải có nguồn lực vận hành, bảo trì, nâng cấp; đội ngũ nghiên cứu phải đủ để khai thác; kết quả nghiên cứu phải có điều kiện tiếp tục thử nghiệm và hoàn thiện. Khai thác dùng chung phòng thí nghiệm và thiết bị cũng cần được tăng cường để hạn chế đầu tư trùng lặp và mở rộng khả năng tiếp cận hạ tầng.
Ở khâu chuyển giao, kết quả nghiên cứu còn phải qua xác lập quyền sở hữu trí tuệ, đánh giá chất lượng, thử nghiệm, sản xuất thử và chứng minh khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường.
TP.HCM đã triển khai chính sách hỗ trợ theo hướng này. Đợt đầu có 54 sản phẩm của 29 tổ chức được lựa chọn, với tổng kinh phí dự kiến hơn 500 tỷ đồng; trong đó ngân sách Nhà nước hơn 200 tỷ đồng cho hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm và bảo hộ tài sản trí tuệ.
Ở cấp quốc gia, Quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 4/8/2026 của Thủ tướng phê duyệt Đề án “Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược” đặt yêu cầu gắn hạ tầng nghiên cứu với thử nghiệm, đo lường, kiểm định, sản xuất thử và thương mại hóa công nghệ.
Đến năm 2030, Đề án đặt mục tiêu nâng cấp, đầu tư mới và đưa vào vận hành tối thiểu 8 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, phát triển tối thiểu 4 trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm quốc gia và làm chủ tối thiểu 10 công nghệ lõi.
Việc đầu tư mới được đặt sau yêu cầu nâng cấp, kết nối, chia sẻ hoặc thuê dịch vụ từ hạ tầng hiện có; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu, thử nghiệm và khai thác kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ.
Từ phòng thí nghiệm ra thị trường là một chuỗi nhiều khâu: Hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, đánh giá, sản xuất thử, xác lập quyền sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp tiếp nhận và đưa vào sản xuất, kinh doanh. Mỗi khâu đều cần nguồn lực và sự tham gia của các chủ thể liên quan.
Đầu tư cho phòng thí nghiệm vì vậy chỉ là bước khởi đầu. Để kết quả nghiên cứu đi tiếp ra thị trường, cần bảo đảm nguồn lực cho cả quá trình sau nghiên cứu. Đây là điều kiện để nguồn lực đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu được chuyển thành công nghệ, sản phẩm và giá trị trong thực tiễn.





