Hai giờ trước khi hội nghị bắt đầu, ThS.BS nội trú Ngô Thị Hồng Hạnh nhận được bộ slide hoàn toàn khác với tài liệu chị chuẩn bị suốt năm ngày trước đó. Lúc ấy, nữ bác sĩ trẻ không tránh khỏi hoang mang. Báo cáo viên người Thái Lan sẽ trình bày về kỹ thuật tiêm filler, nội dung chuyên ngành vốn đòi hỏi người dịch không chỉ nghe tốt mà còn phải hiểu chính xác từng thao tác.
Chị buộc phải dựa vào những gì đã tích lũy: kiến thức về kỹ thuật tiêm, khả năng đọc tài liệu chuyên ngành và kỹ năng nghe, xử lý thông tin bằng tiếng Anh. May mắn, báo cáo viên nói khá rõ nên chị nhanh chóng bắt nhịp và hoàn thành phần dịch.
Sau buổi hội nghị, chị nhận ra những giờ tập đọc, tập nghe, tập dịch tưởng như âm thầm trước đó đã có lúc trở thành “vốn liếng” giúp chị xử lý tình huống không thể đoán trước. “Lúc đó tôi thấy may mắn vì những ngày mình tập luyện không trôi qua vô nghĩa. Hóa ra mình đã chuẩn bị cho chính khoảnh khắc ấy”, chị kể.

Bác sĩ Hạnh trong một lần dịch cabin hội nghị da liễu. (Ảnh: NVCC)
Không xem tiếng Anh là năng khiếu
ThS.BS nội trú Ngô Thị Hồng Hạnh hiện công tác tại Khoa Da liễu thẩm mỹ, Bệnh viện Da Liễu Hà Nội, đồng thời là giảng viên kiêm nhiệm Bộ môn Da liễu, Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam.
Chị đến với tiếng Anh không bắt đầu từ niềm đam mê đặc biệt. Những năm trung học, Hạnh cũng học ngoại ngữ như nhiều bạn bè, chủ yếu để phục vụ thi cử. Mọi thứ thay đổi khi bước vào Đại học Y Hà Nội.
Trong quá trình học, chị nhận ra kiến thức chuyên ngành được cập nhật nhanh nhất chủ yếu nằm trong các tài liệu tiếng Anh, từ sách chuyên khảo, tạp chí khoa học đến các hướng dẫn điều trị. Nếu chỉ chờ bản dịch, người học có thể chậm hơn một nhịp so với sự phát triển của y khoa.
“Muốn hiểu sâu về cơ chế bệnh sinh hay một vấn đề chuyên môn, nhiều khi phải đọc tài liệu gốc”, chị nói. Từ đọc để hiểu, chị tập dịch, rồi tập trình bày và báo cáo bằng tiếng Anh. Dần dần, chị tham gia dịch cabin tại các hội nghị chuyên ngành.
Chị không coi tiếng Anh là năng khiếu. “Đó là kỹ năng tôi chọn mài giũa vì phục vụ trực tiếp cho nghề của mình”, chị nói. Ngoại ngữ cũng đưa nữ bác sĩ đến những cơ hội trước đây chị chưa từng hình dung: tham dự và báo cáo tại các hội nghị trong nước, quốc tế, kết nối với chuyên gia nước ngoài và tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài.

Bác sĩ Hạnh tư vấn sức khoẻ da liễu cho bệnh nhân. (Ảnh: NVCC)
Ngoài công việc tại bệnh viện, nữ bác sĩ còn giảng dạy, tham gia dịch thuật, dịch cabin, báo cáo tại các hội nghị và kinh doanh bên ngoài.
Một ngày của chị thường bắt đầu từ 7h30 tại bệnh viện. Buổi trưa có thể tranh thủ họp với nhóm truyền thông, chuẩn bị bài giảng hoặc tài liệu dịch. Buổi chiều dành cho công việc giảng dạy, hội nghị. Ngoài giờ hành chính, chị làm việc tại phòng khám và buổi tối đọc thêm tài liệu chuyên môn.
Lịch trình dày đặc khiến chị từng được hỏi liệu làm nhiều việc có khiến bản thân khó đi đến cùng một lĩnh vực. Chị cho rằng vấn đề không nằm ở số lượng vai trò mà ở mối liên hệ giữa chúng. Dịch thuật và hội nghị giúp chị cập nhật kiến thức. Chuyên môn y khoa lại là nền tảng để chị làm tốt công việc dịch, giảng dạy hay kinh doanh. “Cái bẫy là làm nhiều thứ rời rạc chỉ vì sợ bỏ lỡ. Nếu các vai trò cùng hướng về một mục tiêu thì nhiều không làm loãng mà làm dày”, Hạnh nói.
Từng nghi ngờ mình có đủ giỏi để đi tiếp
Nhìn vào thành tích Á khoa bác sĩ nội trú hay tốt nghiệp thạc sĩ xuất sắc, ít ai biết chị từng có những ngày nghi ngờ chính mình. Đó là giai đoạn cận kỳ thi bác sĩ nội trú, kỳ thi chỉ được dự một lần với khối lượng kiến thức bao phủ sáu năm đại học.
Những ngày cuối, chị liên tục đọc lại kiến thức, bổ sung phần còn yếu, thiếu ngủ và chịu áp lực từ chính mình lẫn những người xung quanh. Có lúc chị kiệt sức, tự hỏi liệu mình có đủ giỏi để đi tiếp.
Điều giữ chị lại là mong muốn trở thành một bác sĩ tốt. “Tôi luôn nghĩ mình đang đứng ở ranh giới của một phiên bản tốt hơn, chỉ cần đừng dừng lại đúng lúc đó”, chị kể.

Ngoài công việc tại bệnh viện, nữ bác sĩ còn giảng dạy, tham gia dịch thuật, dịch cabin, báo cáo tại các hội nghị và kinh doanh bên ngoài. (Ảnh: NVCC)
Năm đầu nội trú tiếp tục là thử thách khác. Từ môi trường đại học, chị bước vào bệnh viện, làm việc cùng những người có nhiều kinh nghiệm. Có những bác sĩ chỉ nhìn triệu chứng đã định hướng được bệnh, trong khi chị còn lạ lẫm với nhiều thứ.
Khoảng cách ấy từng khiến nữ bác sĩ cảm thấy mình chưa đủ giỏi. Nhìn lại, chị cho rằng điều tạo nên khác biệt không phải tài năng sẵn có. “Không ai nhìn tôi lúc đó và đoán được những gì đến sau, kể cả tôi. Thứ tạo ra khác biệt là tôi tiếp tục học và làm việc lâu hơn một chút”, chị nói.
Nếu gặp một sinh viên y khoa đang loay hoay vì nghĩ mình chưa đủ giỏi, chị sẽ kể về chính mình của những ngày đầu nội trú. Khi ấy, chị cũng từng đứng giữa những người giỏi hơn và cảm thấy khoảng cách rất lớn. Nhưng nếu dừng lại ở cảm giác đó, có lẽ sẽ không có bác sĩ Hạnh của hôm nay.









