Nhắc đến những làng nghề gốm sứ lâu đời ở Hà Nội, Bát Tràng thường là địa danh được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, cách đó không xa, làng cổ Kim Lan cũng sở hữu bề dày lịch sử, với những phát hiện khảo cổ góp phần làm sáng tỏ quá trình phát triển của nghề gốm Việt Nam thời trung đại.
Làng gốm cổ bên dòng sông Hồng
Kim Lan nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km, bên dòng sông Hồng và được ngăn cách với Bát Tràng bởi kênh Bắc Hưng Hải. Nghề gốm tại đây được cho là xuất hiện từ thế kỷ VIII, phát triển hưng thịnh trong nhiều thế kỷ tiếp theo và gắn với hoạt động sản xuất đồ gốm phục vụ đời sống, kinh tế của vùng Thăng Long xưa.

Bản đồ làng cổ Kim Lan.
Những kết quả nghiên cứu khảo cổ cho thấy lịch sử Kim Lan không chỉ được lưu truyền qua gia phả hay ký ức dân gian mà còn được chứng thực bằng hệ thống di vật phong phú.
Theo tư liệu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, các hiện vật gốm sứ được phát hiện tại Kim Lan có niên đại từ thời Đường (thế kỷ VII-X) đến thời Lê (thế kỷ XVII-XVIII), trong đó tập trung nhiều nhất là gốm thời Trần. Những di vật như bao nung, con kê, sản phẩm lỗi và nguyên liệu làm men còn cung cấp bằng chứng về hoạt động sản xuất gốm tại chỗ.
Kim Lan xưa có 16 xóm cổ. Do biến động của dòng sông qua nhiều thế kỷ, xóm Và và xóm Dụ đã bị nước cuốn trôi. Các khu vực còn lại từng gắn với hoạt động sản xuất, chế biến đất sét và vận hành lò gốm.

Các hiện vật khảo cổ, gồm mảnh gốm vỡ và vật liệu liên quan đến quá trình sản xuất, cung cấp tư liệu về nghề gốm xưa.
Nguồn đất sét ven sông cũng là một lợi thế của địa phương. Khu vực này có nhiều loại đất sét với đặc tính khác nhau, tạo điều kiện cho cư dân phát triển nghề làm đồ đất nung và gốm tráng men. Địa danh Bạch Thổ Thôn trong các văn bản cổ cũng gắn với nguồn đất sét trắng tại đây.
Tuy nhiên, nghề gốm Kim Lan từng trải qua giai đoạn suy giảm. Sự cạnh tranh giữa các trung tâm sản xuất, cùng tình trạng bồi lắng và xói lở của sông Hồng, đã tác động đến hoạt động của làng nghề. Một bộ phận cư dân chuyển sang trồng dâu nuôi tằm, trồng ngô khoai và phát triển những sinh kế khác.
Tìm lại lịch sử từ những mảnh gốm vỡ
Ông Nguyễn Việt Hồng năm nay 90 tuổi, sinh ra và lớn lên tại xóm Chùa. Sau nhiều năm làm việc tại Xí nghiệp sứ Bát Tràng, từng giữ chức giám đốc phân xưởng, ông nghỉ hưu năm 1983 và trở về quê nhà.
Ông bắt đầu dành nhiều thời gian đi dọc bãi Hàm Rồng ven sông Hồng để nhặt những mảnh bát vỡ, viên gạch cũ và đồng tiền cổ xuất hiện sau các đợt lũ, sạt lở. Công việc này từng khiến ông bị người xung quanh cho là “gàn dở”.

Ông Nguyễn Việt Hồng kể về lịch sử của làng gốm Kim Lan.
Tuy nhiên, nhờ kinh nghiệm lâu năm trong nghề gốm sứ và khả năng đọc chữ Hán, ông Hồng kiên trì thu thập, phân loại, tìm hiểu niên đại các hiện vật. Sau những trận lụt khiến bờ sông sạt lở, ông cố gắng thu thập những đồng tiền cổ do người dân nhặt được, rồi phân loại theo niên đại ghi trên tiền.
Năm 2000, ông cùng bốn người cao tuổi khác trong làng thành lập nhóm nghiên cứu “Tìm về cội nguồn”, gửi thư tới Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thông báo về những hiện vật đã thu thập.
Sau đó, các cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành tại Kim Lan vào năm 2001 và 2003. Những phát hiện về gốm, khuôn đúc và dấu tích lò nung cổ góp phần làm sáng tỏ lịch sử sản xuất gốm tại địa phương.
Đáng chú ý, những viên gạch xám in nổi chữ Hán Giang Tây quân tìm thấy tại đây có sự tương đồng với gạch được phát hiện ở Hoàng thành Thăng Long, góp phần gợi mở mối liên hệ giữa hoạt động sản xuất tại Kim Lan với quá trình hình thành, phát triển của trung tâm quyền lực xưa.
Bảo tàng cộng đồng lưu giữ hơn 300 cổ vật
Từ quá trình sưu tầm của người dân và những phát hiện khảo cổ, Bảo tàng Khảo cổ học cộng đồng Kim Lan chính thức ra đời năm 2012.
Bảo tàng hiện lưu giữ hơn 300 cổ vật, trở thành nơi trưng bày những dấu tích quan trọng về lịch sử làng gốm. Không gian này còn góp phần giúp thế hệ trẻ tìm hiểu về nghề truyền thống và những giá trị văn hóa của quê hương.

Bảo tàng Khảo cổ học cộng đồng Kim Lan lưu giữ hơn 300 cổ vật, góp phần hé lộ lịch sử lâu đời của làng gốm bên sông Hồng.
Một người có đóng góp đặc biệt trong quá trình hình thành bảo tàng là cố tiến sĩ Nishimura Masanari, nhà khảo cổ học người Nhật Bản có nhiều năm nghiên cứu gốm cổ Việt Nam.
Ông Nishimura tham gia thiết kế bảo tàng, vận động kinh phí xây dựng, sắp xếp hiện vật và viết nội dung giới thiệu. Những đóng góp của nhà nghiên cứu Nhật Bản đã giúp các cổ vật được lưu giữ, giới thiệu một cách hệ thống hơn.
Sau khi tiến sĩ Nishimura Masanari qua đời năm 2013, di hài của ông được an táng tại nghĩa trang Kim Lan theo nguyện vọng gắn bó với vùng đất này.
Cũng trong năm 2013, nhóm năm người cao tuổi Kim Lan cùng tiến sĩ Nishimura Masanari được trao Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội, ghi nhận những đóng góp trong việc tìm hiểu và gìn giữ di sản của làng.

Không gian bảo tàng trưng bày các hiện vật cổ.
Nghệ nhân tìm hướng đi mới cho gốm Kim Lan
Nếu những hiện vật khảo cổ kể lại câu chuyện quá khứ, các nghệ nhân hôm nay là những người tiếp tục duy trì sức sống của nghề gốm Kim Lan.
Nghệ nhân Ưu tú Đào Việt Bình, Chủ tịch Hội Gốm sứ Kim Lan, chia sẻ, khi nghề gốm mới được khôi phục một thời gian, vào năm 1999, công nghệ sản xuất tại làng còn hạn chế, nhiều cơ sở sử dụng lò hộp đốt than. Mong muốn phát triển mẫu mã mới, nghệ nhân Đào Việt Bình đã tìm đến Bát Tràng học nghề, sau đó tiếp tục nghiên cứu nguyên liệu và kỹ thuật để tạo ra những dòng sản phẩm riêng.
Theo ông, để làm ra sản phẩm đạt chất lượng, người thợ cần am hiểu đặc tính của đất, men và lửa. Đây là những kiến thức được tích lũy qua nhiều năm thực hành, thử nghiệm, chứ không chỉ đến từ những thao tác tạo hình đơn thuần.

Người thợ tỉ mỉ tạo hình sản phẩm trên bàn xoay, tiếp nối kỹ thuật thủ công truyền thống của nghề gốm. (Ảnh: Phí Đức Toàn)
Một trong những hướng đi đáng chú ý của nghệ nhân Đào Việt Bình là phát triển dòng gốm có khả năng xuyên sáng. Kỹ thuật này đòi hỏi nguyên liệu phải được tinh lọc, loại bỏ tạp chất và kiểm soát chính xác nhiệt độ nung ở mức gần 1.300 độ C. Bên cạnh đó, cơ sở của ông phát triển các sản phẩm men rạn hoàng kim dựa trên những bài men cổ.
Nghệ nhân Đào Việt Bình cho biết truyền thống cần đi cùng sáng tạo, hoạt động sản xuất phải gắn với thị trường và bảo vệ môi trường, trong khi lợi ích của từng gia đình cần hài hòa với sự phát triển chung của cộng đồng. Ông cũng cho rằng Kim Lan có lợi thế ở tính nguyên bản của làng nghề, phù hợp để phát triển du lịch trải nghiệm, du lịch văn hóa và các hoạt động tìm hiểu di sản.
Trải qua nhiều thế kỷ, Kim Lan từng có giai đoạn hưng thịnh, suy giảm rồi hồi sinh. Những dấu tích khảo cổ, bảo tàng cộng đồng và nỗ lực của các nghệ nhân đang tạo nên sự tiếp nối giữa quá khứ với hiện tại.










