Cho người khác vay mượn vàng có vi phạm pháp luật không?
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 24/2012/NĐ-CP về nguyên tắc quản lý hoạt động kinh doanh vàng, cụ thể như sau:
Nguyên tắc quản lý
1. Quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật.
...
Theo quy định trên, cá nhân được sở hữu vàng hợp pháp và được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu.
Cá nhân sở hữu vàng hợp pháp phải tuân thủ một số quy định sau đây:
- Không được sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán (Theo quy định tại khoản 4 Điều 19 Nghị định 24/2012/NĐ-CP)
- Cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài không được phép mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu khi xuất cảnh, nhập cảnh bằng hộ chiếu.
Trường hợp cá nhân nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam mang theo vàng miếng, vàng nguyên liệu phải làm thủ tục gửi tại kho Hải quan để mang ra khi xuất cảnh hoặc làm thủ tục chuyển ra nước ngoài và phải chịu mọi chi phí liên quan phát sinh (Theo quy định tại Điều 2 Thông tư 11/2014/TT-NHNN)
- Cá nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài khi xuất cảnh, nhập cảnh bằng giấy thông hành biên giới, giấy thông hành nhập xuất cảnh, chứng minh thư biên giới không được mang theo vàng nguyên liệu, vàng miếng, vàng trang sức, mỹ nghệ trừ trường hợp đeo trên người vàng trang sức, mỹ nghệ phục vụ nhu cầu trang sức như các loại: nhẫn, dây, vòng, hoa tai, kim cài và các loại trang sức khác; trường hợp tổng khối lượng từ 300g (ba trăm gam) trở lên phải khai báo với cơ quan Hải quan (Theo quy định tại Điều 3 Thông tư 11/2014/TT-NHNN).
Theo đó, hiện tại không có quy định nào cấm cá nhân vay mượn vàng thuộc sở hữu hợp pháp của mình, nói cách khác, cá nhân có thể cho vay mượn vàng mà mình sở hữu hợp pháp.

vay vang2.png
Mượn vàng phải trả vàng hay trả tiền? Nếu trả tiền thì trả bằng giá vàng lúc vay hay hiện tại?
Những ngày gần đây, giá vàng liên tục tăng cao kỷ lục kéo theo nhiều câu chuyện tranh cãi liên quan đến vay nợ bằng vàng thì khi trả, có bắt buộc phải trả bằng vàng không? Nếu trả bằng tiền thì sẽ trả bằng giá vàng hiện tại hay tiền theo giá trị lúc vay?
Câu chuyện trở thành vấn đề tranh cãi khốc liệt vì người cho vay cho rằng, khi cho vay bằng vàng thì trả cũng bằng vàng, nếu trả bằng tiền thì phải trả bằng tiền giá vàng hiện hành.
Trong khi đó, người vay lại cho rằng, khi vay vàng thì họ cũng phải bán vàng ngay để lấy tiền nên khi trả cũng chỉ trả tiền, và số tiền trả bằng giá vàng khi vay. Giá vàng tăng quá cao nếu trả vàng thì họ lại là người chịu thiệt vì “quá vay nặng lãi”.
Vậy pháp luật quy định thế nào trong trường hợp này?
Việc cho mượn tiền, vàng bản chất là hai bên đang thực hiện hợp đồng vay tài sản. Theo đó, Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản như sau:
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trách nhiệm trả nợ của bên vay như sau:
Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.
3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:
a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;
b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”
Như vậy, theo như quy định trên, việc một người đồng ý cho người khác mượn vàng - vốn là tài sản có giá trị cao và biến động mạnh theo thị trường - đã là một sự giúp đỡ đáng kể về tài chính, nhất là trong thời điểm người vay đang cần vốn gấp hoặc gặp khó khăn. Nếu người cho vay giữ lại số vàng đó thay vì cho mượn, theo thời gian giá trị tài sản có thể tăng đáng kể. Do đó, khi đến hạn trả, người vay có nghĩa vụ hoàn trả đúng loại vàng, số lượng và chất lượng như lúc vay, trừ khi hai bên có thỏa thuận khác.
Trong trường hợp người vay không còn khả năng hoàn trả bằng vàng, việc trả bằng tiền chỉ được xem xét nếu bên cho vay đồng ý. Và khi đó, giá trị thanh toán phải căn cứ vào giá vàng tại thời điểm trả nợ, chứ không phải giá vàng lúc vay. Đây là nguyên tắc bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên cho vay, đảm bảo không ai bị thiệt hại vì đã giúp đỡ người khác đúng lúc cần thiết. Nếu người vay cố tình vin vào giá vàng quá khứ để hoàn trả với giá thấp hơn nhiều so với thực tế, điều đó vừa không đúng pháp luật, vừa đi ngược lại đạo lý.
Nếu các bên không thỏa thuận được với nhau thì có thể khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền để giải quyết. Khi đó, tòa án sẽ xác định tài sản vay ở đây là tiền hay vàng trên cơ sở thu thập chứng cứ là lời khai của các bên, người làm chứng (nếu có) và các bằng chứng khác.
Cho vay vàng không có giấy tờ, người vay trả bằng tiền giá gốc, phải làm sao?
Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp bên vay không hoàn trả lại tiền hoặc vàng cho bên cho vay khi đến hạn hoặc chỉ trả bằng tiền giá vàng tại thời điểm đi vay vì bên cho vay tiền không có giấy tờ chứng minh giao dịch đó do quá tin tưởng hoặc chủ quan, không xác lập hợp đồng bằng văn bản.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 119 BLDS 2015 về hình thức của giao dịch dân sự thì hợp đồng cho vay tài sản có thể được xác lập bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.
Vì vậy, trường hợp cho vay vàng không có giấy tờ chứng minh như hợp đồng cho vay thì giao dịch vẫn có hiệu lực pháp luật nếu được giao kết bằng hành vi cụ thể của các bên. Và bên vay vàng phải hoàn trả cho bên cho vay đúng số lượng, chất lượng vàng đã vay.
Nếu bên vay không thừa nhận rằng đã vay tài sản là vàng thì buộc bên cho vay phải chứng minh, bởi theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, bên nào khởi kiện thì bên đó phải cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Mượn vàng không trả bị phạt bao nhiêu tiền?
Theo khoản 1 Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác như sau:
Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
….
- Không trả lại tài sản cho người khác do vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản;
Như vậy, người mượn vàng nhưng không trả lại cho người cho người mượn thì sẽ bị phạt từ 2 đến 3 triệu đồng. Ngoài ra, nếu vượt quá mức xử phạt hành chính thì ttùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà người mượn tiền còn có thể bị xử lý hình sự về:
- Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015: Nếu sau khi mượn vàng mới nảy ra ý định không trả.
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015: Nếu trước khi mượn vàng đã có ý định mượn không trả và chiếm đoạt luôn của người cho mượn.
Lưu ý quan trọng khi cho vay mượn vàng
Thứ nhất, “tên gọi phải phù hợp với bản chất thực tế” là yếu tố then chốt. Pháp luật luôn xem xét bản chất thật sự của giao dịch chứ không chỉ dựa vào cách gọi. Việc vay vàng và vay số tiền thu được từ việc bán vàng là hai giao dịch hoàn toàn khác nhau về mặt pháp lý. Những thỏa thuận miệng mơ hồ không có giá trị khi đối chiếu với chứng cứ bằng văn bản và hành vi thực tế của các bên.
Thứ hai, mọi thỏa thuận quan trọng đều phải được thể hiện bằng văn bản. Các quan hệ vay nợ, đặc biệt là vay vàng hoặc vay tiền có giá trị lớn, cần được ghi nhận rõ ràng trong hợp đồng hoặc giấy vay. Văn bản phải nêu cụ thể đối tượng vay là “hàng hóa chung” như tiền tệ, hay “hàng hóa cụ thể” như vàng thỏi; đồng thời xác định rõ số lượng, giá trị hoặc phương thức định giá.
Pháp luật bảo vệ thiện chí của các bên tại thời điểm ký kết hợp đồng, chứ không bảo vệ tâm lý đầu cơ hay sự thay đổi ý định khi thị trường biến động. Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ chỉ vì giá vàng tăng cao là hành vi vi phạm nguyên tắc thiện chí và trung thực.
Nếu thực sự có ý định cho vay vàng nhằm phòng ngừa lạm phát, người cho vay nên giao vàng vật chất trực tiếp, đồng thời trong hợp đồng cần ghi rõ nghĩa vụ “hoàn trả vàng có cùng trọng lượng và độ tinh khiết”. Ngược lại, nếu chỉ vay tiền, dù số tiền đó có nguồn gốc từ việc bán vàng, thì hợp đồng chỉ cần ghi rõ số tiền vay.




Bình luận