Ðã hơn 300 năm nay, trải qua bao thăng trầm, có lúc tưởng như Ðào Thục thất truyền nghề rối, nhưng không, giờ đây nơi thủy đình vẫn vang lên tiếng sáo, tiếng nhị, với câu hát tự hào: “Nước Ðào Thục vừa trong vừa mát/ Ðường Ðào Thục sạch đẹp bàn cờ” trong tích trò “Ba khí giáo trò”.
Thôn Ðào Thục, xã Thuỵ Lâm, huyện Ðông Anh, thành phố Hà Nội từ lâu đã nổi danh là cái nôi của rối nước cổ truyền. Ðến nay, Ðào Thục vẫn là phường rối phát triển và có hoạt động biểu diễn thường xuyên nhất. Ðể những quân rối màu sắc được sống đời sống sinh động trên mặt nước là nhờ những người nông dân – nghệ sĩ yêu mến tha thiết loại hình nghệ thuật độc đáo này.
Nằm cách trung tâm thủ đô khoảng ba chục cây số, rẽ vào thôn Ðào Thục người ta như quên hết những ngột ngạt, xô bồ của đời sống đô thị. Những ruộng lúa xanh mướt mát bên triền đê sông Cà Lồ, đình làng với cây đa cổ thụ rợp bóng cạnh một ao nước nhỏ chính là thủy đình nơi thường xuyên biểu diễn múa rối mỗi dịp lễ hội hay có đoàn khách du lịch yêu cầu. Ðào Thục vẫn giữ được dáng vẻ kiến trúc của làng Việt cổ vùng đồng bằng Bắc bộ.
Theo sử sách ghi lại, làng xưa có tên là Ðào Xá được hình thành trên vùng đất Kinh Bắc cổ, xuất hiện từ thời An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Ðến thời vua Khải Ðịnh làng đổi tên là Ðào Thục. Ðầu thế kỷ XVIII, tiến sĩ Ðào Ðăng Khiêm (tự Phúc Thiêm, tên thật là Nguyễn Ðăng Vinh) đã về quê dạy dân làng nghệ thuật múa rối nước trong kinh thành. Hàng năm vào 24/2 (âm lịch) dân làng thường làm lễ tưởng nhớ ông tổ nghề và ghi công đức của ông tại văn bia cạnh đình làng.
Tại đình làng Đào Thục rối nước biểu diễn thường xuyên để phục vụ bà con và khách du lịch.
Ðã hơn 300 năm nay, trải qua bao thăng trầm, có lúc tưởng như Ðào Thục thất truyền nghề rối, nhưng không, nơi thủy đình vẫn vang lên tiếng sáo, tiếng nhị, với câu hát tự hào: “Nước Ðào Thục vừa trong vừa mát/ Ðường Ðào Thục sạch đẹp bàn cờ” trong tích trò “Ba khí giáo trò”.
Những nghệ sĩ nông dânTheo anh Nguyễn Văn Trách (phó phường rối Ðào Thục) cho biết, đoàn rối Ðào Thục hiện có khoảng hơn 20 người. Trong đó có 8 diễn viên điều khiển quân rối. Họ đều là những người nông dân hàng ngày tất bật với công việc đồng áng. Vào ngày nghỉ những nghệ sĩ áo nâu này nhiệt tình tham gia tập luyện và sẵn sàng phục vụ khách du lịch mỗi khi có yêu cầu với tiền công chưa tới một trăm nghìn cho gần hai tiếng đồng hồ đứng dưới nước. Với khoản thù lao dù ít ỏi nhưng nghệ sỹ rối nước Ðào Thục không lấy làm nản chí bởi trong họ ký ức về quãng thời gian khó khăn vẫn còn rất đậm nét. Ðó là khoảng đầu thập niên 90 những ngày thủy đình yên ắng, con rối bị bỏ không vì không ai muốn xem, các nghệ sỹ cũng chẳng có cơ hội mà biểu diễn.

Xưởng làm con rối của gia đình anh Đinh Hữu Tự “đôi bàn tay vàng” của rối Đào Thục.
Ðứng trước khó khăn mất nghề, lớp trẻ không hào hứng học, những nghệ sỹ nông dân như ông Ðinh Thế Văn nguyên là đại úy quân đội, Ngô Minh Phong nay là phó phường rối đã quyết tâm đứng lên cùng các cụ cao tuổi bảo vệ kho tàng dân gian quý báu của mình. Họ say mê vận động lớp con cháu học lấy nghề của cha ông. Không quản công lao của những diễn viên đi trước, đến nay phường rối đã phát triển và ngày một khởi sắc như lời kể của anh Nguyễn Văn Trách: “Nhờ công sức của các cụ đi trước truyền dạy, hiện phường có khá nhiều diễn viên trẻ ở lứa tuổi đôi mươi thuận lợi hơn nhiều làng rối truyền thống khác. Dù rất trẻ nhưng các em đều yêu thích múa rối từ nhỏ và tình yêu ấy được nuôi dưỡng bằng những cố gắng của các thế hệ đi trước”.
Thăm phường rối Ðào Thục sẽ gặp được nhiều diễn viên rối nước đa tài vừa sử dụng loại máy sào kết hợp điều khiển dây để quân rối quay đầu và vung vẩy đều hai tay, chuyển sang phải hay sang trái rất dễ dàng trên mặt nước, vừa tạo hình nên những con rối sống động bằng đôi bàn tay khéo léo. Ðược mệnh danh là “đôi bàn tay vàng” của phường rối Ðào Thục anh Ðinh Hữu Tự là một trong những người đã góp thêm sức sống cho những quân rối nơi đây. Từ nhỏ anh đã đam mê với các tác phẩm nghệ thuật dân gian cổ truyền.
Với con mắt thẩm mỹ và đôi bàn tay khéo léo, anh Tự đã sắm sửa bộ đồ nghề làm mộc với đầy đủ các đồ nghề đục, khắc, đẽo gọt giũa hết sức tinh xảo, sắc bén vừa để kiếm sống vừa phục vụ phường rối quê hương. Suốt 20 năm gắn bó với nghệ thuật múa rối nước cổ truyền, hiện nay anh là phó phường múa rối nước Ðào Thục phụ trách kỹ thuật biểu diễn. Nhờ những người như anh Ðinh Hữu Tự mà phường có một đội ngũ nghệ nhân biết đục đẽo, phủ sơn khá tinh xảo các quân rối, theo tích trò dân gian cổ truyền mang tính nghệ thuật thẩm mỹ cao.
Quân rối Ðào Thục được làm bằng những loại gỗ nhẹ như: gỗ mít, sung… bên ngoài phủ sơn để chống thấm nước. Không có khuôn mẫu cố định, chỉ có sự kế thừa, say mê và sáng tạo để làm nên những quân rối thực sự có hồn. Mỗi quân rối là một tác phẩm điêu khắc dân gian ghi danh Ðào Thục vào 14 phường rối nước thuộc Hiệp hội múa rối nước UNIMA Việt Nam nổi tiếng.
Trò diễn chỉ đào thục mới có
Rối nước Ðào Thục nổi danh bởi nhiều trò diễn dựa trên tích truyện không trùng lặp với các phường rối nước khác như: “Ba khí giáo trò”, “Câu ếch”, “Trâu chui ống”, “Nhà nông”, “Phùng Hưng đánh hổ”, “Ðốt pháo phật cờ”... rất gần gũi với đời sống của nhân dân lao động và hài hước. Những năm gần đây, các nghệ sỹ còn biên soạn thêm nhiều trò diễn mới kết hợp cải tiến kỹ thuật biểu diễn: dây kết hợp với sào, sử dụng quân rối to hơn. Khi diễn, người điều khiển rối phải gửi cả tâm huyết của mình vào mỗi động tác để những quân rối trở nên linh hoạt và có hồn.

Ông Đinh Thế Văn người có công lớn “nuôi sống” lại rối nước Đào Thục và là cha đẻ của trò diễn “Đánh B52” nổi tiếng.
Song dù có hay đến đâu, những vở rối cũ cũng ngày một “nhàm” với người xem. Là một người yêu tha thiết nghề của cha truyền lại ông Ðinh Thế Văn một quân nhân về hưu cùng với những cụ cao niên trong phường đã sáng tạo nên vở rối mới “Ðánh B52”. Một trong những trò diễn thành công mà cứ nhắc tới Ðào Thục là ai ai cũng nhớ. Cha ông Ðinh Thế Văn là cụ Ðinh Văn Viết, một “ông bầu” của làng múa rối nước Ðào Thục, sinh thời có dặn con trai, lúc ông Văn còn tại ngũ: “Nếu sau này con về hưu mà còn mạnh khỏe, con nên tiếp tục truyền thống rối nước của làng, đừng bỏ mai một mà có lỗi với ông bà”. Cuộc chiến với ruộng vườn cũng không kém phần gian nan nhưng lời dặn của bố cứ ám ảnh lấy ông.
Nguyên là tiểu Ðoàn trưởng Tiểu đoàn 77 bộ đội tên lửa từng hạ B52 trong chiến dịch 12 ngày đêm Hà Nội bằng cách đánh độc đáo của mình. Có lẽ, trận đánh B52 năm nào vẫn còn “cựa quậy” trong người lính già này giúp ông viết nên “Ðánh B52”. Lần đầu tiên trên sân khấu mặt nước xuất hiện quân rối tạc lại anh bộ đội tên lửa, những chiếc B52 mô hình bị bắn hạ được gắn thêm pháo sáng. Những “đình, đoàng” của súng ống, bom đạn thay cho tiếng sáo, tiếng nhị quen thuộc.
Ông Văn đã từng gõ cửa Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc để gặp Giáo sư Hoàng Chương (Giám đốc Trung tâm), một người rất tâm huyết với văn hóa cổ truyền. Giáo sư Chương về Ðào Thục cùng ông Văn để xem “Ðánh B52” và ông rất tâm đắc. Ðể rồi hễ có đoàn khách nước ngoài nào mà mê văn hóa truyền thống của Việt Nam, GS Chương lại dẫn về Ðào Thục thưởng lãm. Dần dà, các tour du lịch đã đưa rối nước Ðào Thục vào chương trình của họ. Cái làng rối nước heo hút ấy được nhà nước biết tới, đầu tư xây dựng một con đường nhựa và hệ thống điện chiếu sáng kéo đến tận thủy đình. “Nếu không có cái cú đánh B52 bằng rối nước, chắc không biết đến bao giờ Ðào Thục mới thoát được cảnh bùn lầy” - ông Văn tự hào khoe.
Từ năm 2005, nhu cầu xem múa rối nước tăng lên, Ðoàn rối Ðào Thục đã tổ chức múa rối thường xuyên cho khách du lịch đến xem tại làng. Phát triển website và liên kết với các công ty du lịch. Ông Văn cho biết: “Làng còn có thêm hai thủy đình di động để thi thoảng chúng tôi đi biểu diễn ở Văn Miếu hay thành Cổ Loa khi có đoàn khách nào yêu cầu. Ðào Thục đang là một trong số hiếm những ngôi làng sống được bằng nghề cổ”. Nhưng điểm độc đáo hơn cả của rối nước Ðào Thục là du khách đến đây được ngắm nhìn những quân rối sống động trong khung cảnh làng quê thanh bình.
Đinh Nha Trang


Bình luận