Hình như, đối với những người thành thị, xứ Mường lúc nào cũng vời vợi bí ẩn, cũng là một ẩn số làm cho trái tim của những kẻ khát khao khám phá, lúc nào cũng cuồn cuộn khát vọng lên đường… Cắt giải cái nguyên cớ ấy, có lẽ cũng chẳng có gì khó khăn lắm. Bởi một lẽ, trầm tích trong những lớp lang lịch sử, văn hoá xứ Mường lúc nào cũng làm đắm đuối biết bao người có máu lãng du…...

Tôi đã nghe theo tiếng gọi thiết tha lên đường của mình biết bao lần, mà lần nào lên với xứ Mường, về với xứ Mường cũng giữ nguyên vẻ đắm đuối si mê… Cũng như mảnh đất Mường Chậm - xứ mường bí ẩn nhất trong “thiên đường” Bi, Vang, Thàng, Động của đất cửa ngõ Tây Bắc Hoà Bình - cũng khiến mình ngủ quên tựa như một người lữ hành lạc bước đường chân trời vời vợi...…
Đêm không ngủ ở mường Chậm…
Mường Chậm nằm lọt thỏm giữa thung lũng Mường Bi - xứ Mường cổ nhất của đất Hoà Bình. Mỏm núi cột cờ đứng lơ chơ giữa cánh đồng rộng bát ngát, trông xa tựa như một cái chuỳ cắm giữa trời, sừng sững bao đời. Con đường độc đạo dẫn vào mường Chậm, xẻ đá vịn rừng, len lỏi. Nó tựa như một người đi núi, lúc nào cũng chăm chắm nhìn về phía trước, cặm cụi và bền bỉ. Núi tiếp núi. Những thung nhỏ hổn hển cùng những mó nước bịn rịn một mối thâm tình…
Dường như, trời đất Tây Bắc đã quy ước với nhau một điều, những xứ mường cổ nhất và đẹp nhất, thường là những thung lũng rộng mướt mát và phì nhiêu cây trái, được phân bổ chạy theo trục dọc giữa hai con sông Đà và sông Mã. Đất của những quan lang, những dĩnh, nhưng tạo, ậu cả… truyền đời kế nghiệp nhau đã xây dựng nên một xứ mường trù phú, từ Tân Lạc, Kim Bôi xuôi theo sông Mã về Lạc Thuỷ, đến Quan Hoá, Ba Thước (Thanh Hoá) chạy thẳng vào đất Mường (Nghệ An)… Thế nhưng, trời đất cũng dành cho xứ Mường Hoà Bình một diễm phước lớn lao để cho xứ Mường Hoà Bình là xứ mường đẹp nhất, duyên dáng nhất như một thiếu nữ yêu kiều.
Truyền rằng, trong xứ mường Hoà Bình nằm rải dọc thung lũng dưới chân dốc Cun, dốc Thung Khe hiểm trở, Mường Chậm là xứ mường “trẻ nhất” và cũng nằm ở địa thế sâu nhất, xa nhất. Nó là kết quả của một cuộc trốn chạy của một nhà dân thường xứ Mường, vì phạm tội với nhà lang phải bồng bế nhau bỏ Mường đi tìm đất mới.
Thuở ấy, nhà lang xứ Mường Bống ở đất Lạc Sơn, cho dựng một con đập dẫn nước về các ruộng bậc thang lẩn khuất trong các thung khe nách núi, làm nước tưới tiêu, sinh hoạt. Lũ trẻ mường Bống rủ nhau tắm trên đập, chui luồn như rái cá trong cái cống dẫn nước bắc ngang qua chân núi. Một nhà dân thuộc họ Bùi Văn vô tình đan một cái ngõ hầu (cái đó) chặn một đầu bên kia miệng cống. Lũ trẻ mải đùa, bị giắt và cái ngó hầu ấy làm chết 9 thằng bé con. Nhà lang phạt vạ, bắt nhà họ Bùi kia đan đủ 9 cái đó, mỗi năm nộp lúa, ngô… quy ra bạc vàng đầy 9 đó đặng nộp vạ cho mường…
Một mùa lúa mới, vào một đêm tối trời, nhà họ Bùi gùi chín gùi lúa mới, bồng bế nhau bỏ mường, trốn nhà lang. Họ đi miết cho tới khi lạc vào một vùng hoang vu rậm rạp. Nghe tiếng cuốc kêu, họ Bùi mới nghĩ: vùng này ắt hẳn có nước! Thế rồi, già trẻ, lớn bé họ Bùi Văn ở lại. Mường Chậm được hình thành như thế… Con cuốc chỉ đường cho người trốn vạ nhà lang do đó mà được nhà Bùi Văn nhớ ơn, không bao giờ ăn thịt…
Mùa lúa năm sau. Người vợ của nhà Bùi Văn đi xúc cá ở lằn nước, được một quả trứng. Bỏ đi đâu bà cũng bắt đúng quả trứng ấy. Lấy làm kỳ lạ, bà mang quả trứng về cho gà ấp, nở ra một con rắn. Con rắn hiền lắm, cho ăn mới ăn, chẳng bao giờ làm hại ai cả. Lớn lên, con rắn theo dòng nước bò về cái lằn. Nó bảo với vợ chồng họ Bùi, rằng: con trả ơn nuôi dưỡng của bố bằng cách mở rộng đất cho bố cày!”. Một đêm mưa gió, sấm chớp đùng đùng, nước ngập cả mường, ngập núi. Nước kéo đổ cây, cuốn đổ nhà… Đúng lúc ấy, con rắn hiện lên bảo với họ Bùi: “Con sẽ đi dập dòng nước dữ cứu mường. Lúc con đi, bố phải nhắm mắt đọc câu thần chú: “Con tôi làm được…” và không được mở mắt nhìn. Nếu không con sẽ chết ngay!”. Nói rồi, con rắn lao vào dòng nước dữ trong đêm giông gió. Người cha nghe theo đứa con nuôi rắn, nhắm mắt đọc câu thần chú. Nhưng rồi, cuối cùng vì sự tò mò, ông mở mắt ra và nhìn thấy một con giao long khổng lồ đang hút từng đụn nước vào bụng, vừa hút, vừa lấy thân mình khoét núi cho nước thoát đi… Con rắn chết. 4 ngày sau, cái xác rắn khổng lồ mới nổi lên. Người cha hối hận, lên rừng tìm cây gỗ lớn về làm áo quan cho con rắn. Từ truyền thuyết ấy, người Mường Chậm về sau không dám ăn thịt rắn, cũng như không ăn thịt con chim cuốc, hay làm áo quan mai táng người chết không trang trí bằng màu đỏ hay những hình vẽ có hoạ tiết hoa văn…
Câu chuyện về Mường Chậm được ông Hà Công Tiêu kể lại bên bếp lửa bập bùng giữa đêm mường Chậm. Ông Tiêu là con trai út của cụ Hà Thị Lợi – bà cả nàng (vợ quan lang) cuối cùng còn sống của mường Chậm. Mường Chậm vừa bước vào mùa lúa mới. Bữa cơm mừng lúa mới theo làn khói bếp ấp ủ còn quyến luyến trên những ngọn bương, vầu xanh ngút mắt.
Mường Chậm là xứ mường còn giữ được nhiều nét hoang sơ của xứ Mường cổ. Từ bản xuống phiên chợ Lồ một tháng họp hai lần mất nửa ngày đường, thành thử người mường Chậm “tự sản tự tiêu”. Rau ăn lấy từ vườn, cá nuôi trong ao, gà nuôi trong chuồng, và gạo thì lấy từ nương… Bốn phía mường Chậm được vây bủa bởi núi đá sừng sững. Thành thử, theo sự bủa vây của núi, nhịp sống ở mường Chậm hình như cũng theo đó mà chậm lại, lãng đãng và trong trẻo tinh khôi.

Bà Cả nàng cuối cùng nơi thung lũng tu tiên Mường Chậm
Thung lũng tu tiên
Người đàn ông Mường có tên Hà Công Tiêu kể lại cho tôi nghe câu chuyện về nguồn gốc mường Chậm, chính là người con út của bà cả nàng Hà Thị Lợi. Ông Tiêu sinh năm 1947, thế nhưng chẳng ai có thể nghĩ, ông Tiêu đã bước sang cái tuổi sáu mươi hai… và lại là hậu duệ của nhà lang mường Chậm. Điều kỳ bí nhất, ấy là Mường Chậm không chỉ là xứ sở của những huyền thoại kỳ bí, nó còn là thung lũng tu tiên của những người sống lâu trường thọ.
Mường Chậm quần tụ vài trăm nóc nhà, thế nhưng cõi “tu tiên” ấy lại tập trung đến cả trăm cụ trên cả cái tuổi “thập thập cổ lai hy”. “Cụ cả nàng” Hà Thị Lợi (cụ thân sinh của ông Hà Công Tiêu) sinh năm 1898. Năm nay, cụ bước sang tuổi… 110 tuổi. Mấy năm trước, cụ Lợi vẫn còn nhúc nhắc làm công việc đan lát dưới sàn nhà, vẫn có thể chăm bẵm con lợn ủn ỉn trong chuồng, hay vài đàn gà con thả nơi gầm sàn. Thời con gái, cụ Lợi là người con gái Mường đẹp nhất bản, thế nên cụ mới được về làm dâu trong cửa nhà quan lang mường Chậm. Thế giới của cụ Lợi bây giờ gắn liền với cái bếp lửa lúc nào cũng lom rom cháy. Người già ngại lạnh, ngại nước, nên hầu hết, mọi sinh hoạt của cụ Lợi đều gắn liền xung quanh cái bếp. Chiếc phản kê gần bếp. Mấy cái ấm đun, cái khạp đồng đồ xôi… cũng xếp xung quanh cái phản gỗ, gần tầm tay với của cụ.
Cụ Lợi không nói được tiếng Kinh. Thế nhưng, khi khách đến chơi, cụ vẫn dủng dẳng nghe chuyện, thỉnh thoảng lại góp vài lời nghe thẽ thọt như tiếng gió. Con trai út của cụ, ông Tiêu, bảo: mẹ tôi già thế, nhưng vẫn còn minh mẫn lắm. Nơi cụ Lợi nằm đối diện với cái cửa sổ mở ra phía cánh đồng. Mỗi sáng, mỗi chiều bà con trong bản đi làm, cụ Lợi đều biết cả, đều có thể nhìn rõ mặt người. Năm 1999, ông Tiêu làm lễ mừng thọ cụ tròn… 100 tuổi. Lúc ấy, cụ Lợi đã có tất cả… 120 cháu chắt chút chít… Ông Tiêu mổ một con bò, mời cả bản đến mừng tuổi trời của mẹ. Ông tính, nếu trời thương cho vạt nương nhà ông trổ nhiều thóc, ông sẽ tổ chức lễ mừng thọ cho mẹ tròn 110 tuổi.
Ở mường Chậm, những cụ cao tuổi như cụ Lợi nhiều lắm. Những người sống hơn 100 tuổi có tới gần 30 cụ cả thảy. Cụ Hà Thị Báng khi về trời cũng đã mang trên người… 120 năm sống trong cõi nhân gian; cụ ông thân sinh ông Tiêu, mất năm 2003, sinh năm Mậu Tuất, khi ấy cũng 106 tuổi; cụ Ơel gần 100 tuổi… Còn những cụ trên 80 tuổi thì nhiều lắm. Ông Tiêu lần mẩn đưa hai bàn tay ra đếm. Ông phải đếm đi đếm lại mấy lượt, phải lục trí nhớ bản trên bản dưới… mới liệt kê sơ bộ những cụ sống trong cõi tu tiên.
Tôi lẩn thẩn hỏi ông Tiêu bí quyết tu tiên của các cụ. Ông cười mủm mỉm như con trẻ: người già các cụ ăn nhạt lắm, và ăn thành nhiều bữa lặt vặt, đặc biệt như cụ Lợi, rất thích món… thịt mỡ. Xưa, các cụ sống cực khổ, toàn phải ăn củ nâu, củ mài, phải vào rừng tìm nấm, tìm ốc đá, chuột rừng…, chứ tịnh không có một thứ biệt dược nào cả… Thế mới biết, mường Chậm trong lành đến nhường nào, hoang sơ đến nhường nào!
Tối. Ông Tiêu một mực giữ khách lại ngủ chơi. Người mường Chậm hiếu khách, quý khách, câu mời thật lòng nhất, ấy là mời khách ở lại… ngủ chơi! Bữa cơm giản dị chỉ có rau rừng, choé rượu cần phưng phức thơm nồng nàn ba gian nhà sàn gỗ. Ông Tiêu lẩn thẩn kể về những câu chuyện xứ mường Chậm quê ông, với một tình yêu nhất mực. Ông còn khoe, ông hiện là người có số công nhiều nhất mà cả bản Mường còn nợ, hơn 1.000 công đổi giúp. Ông tính, ra giêng rảnh rỗi, ông sẽ cất lại ngôi nhà sàn mới. Và, 1.000 công đổi ấy, ông có thể cất đủ… 3 ngôi nhà sàn như thế!
Con suối đầu bản róc rách chảy. Con suối có từ bao giờ, không ai biết. Cũng như trong ngôi nhà lang trăm tuổi của ông Tiêu được thừa kế, không ai nhớ được đã có bao nhiêu bữa cơm mời, bao nhiêu buổi ngủ chơi… của những người khách lạ đến với mường Chậm.
Trong gian bếp, cụ Lợi đã chìm vào giấc ngủ sâu. Hơi thở đều đều của bà lão tu tiên hơn trăm tuổi, có ngọn lửa hiền lành nâng giấc. Êm đềm…



Bình luận