Người mẹ bản xa” – bộ phim tài liệu phát trên sóng kênh VTCHD1 trong tháng 5 vừa qua đã khiến không ít người xem xúc động. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu, bởi sự xúc động đó được tạo nên từ chính cảm xúc của những người làm phim khi được trải nghiệm cuộc sống của người dân bản xa… Bên làn khói mỏng manh của ly café đá, BTV Tuấn Hiệp vẫn còn vẹn nguyên kí ức về những ngày tháng rong ruổi trên vùng đất cao nguyên đó…

Cảm xúc bất chợt
Theo kế hoạch, chuyến đi Sơn La lần này chúng tôi sẽ kết hợp thực hiện 3 phim PS - tài liệu: một phim về Thành phố Sơn La, một phim về Nhà tù Sơn La và một phim về Hang Dơi Mộc Châu.
Khi thực hiện những cảnh quay về Thành phố Sơn La, vô tình chúng tôi được gặp mẹ trong một nhà nghỉ - nhà nghỉ Công đoàn Sơn La… Cứ chiều chiều, mẹ lại ra đứng ở ban công tầng hai nhà nghỉ, mắt nhìn về phía xa xa, vẻ mong đợi bồn chồn… Có lần, trong một cuộc liên hoan văn nghệ do đội văn công của nhà nghỉ trình diễn, chúng tôi thấy mẹ ngồi ở hàng đầu, giữa những quan khách… Không hiểu những lời ca tiếng hát trẻ trung đó gợi cho mẹ những cảm nghĩ gì… Nhưng cả nhóm chúng tôi dường như đều có chung một xúc cảm: lọt thỏm giữa âm thanh, sắc màu và hoạt động sôi nổi, mẹ như để tâm tư lắng vào một nơi nào đó thật xa xôi…
Dần dà, thông qua những cuộc nói chuyện với ông Giám đốc nhà nghỉ, chúng tôi cũng biết thêm được ít nhiều về thân thế của mẹ. Mẹ tên là Mùi Thị Dậu, năm nay 89 tuổi, người dân tộc Mường và là một trong bốn Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng của tỉnh Sơn La được nhà nước phong tặng vào năm 2004. Người con trai duy nhất của mẹ là anh Mùi Văn Chính đã hi sinh trên chiến trường chống Mỹ tại Lào vào năm 1970.
Khi ngôi nhà tình nghĩa của mẹ ở quê bị gió mưa làm sụt nóc, mẹ đã tới ở nhà vợ chồng người con gái nuôi một thời gian… Nhiều đơn vị ở Sơn La xin nhận phụng dưỡng mẹ suốt đời. Và công ty du lịch khách sạn công đoàn Sơn La đã nhận được niềm vinh dự ấy. Tại đây, mẹ được chăm sóc như người mẹ, người bà chung của cả đơn vị…
Nhưng, nỗi nhớ quê hương vẫn thường dày vò tâm tư mẹ. Mọi người đều hiểu điều ấy. Vì vậy, thi thoảng, khách sạn Công đoàn Sơn La lại tổ chức một chuyến lặn lội đưa mẹ về thăm nhà độ dăm bữa nửa tháng, rồi lại về quê đón mẹ lên Thành phố...
Thực may mắn, chúng tôi gặp được dịp Khách sạn Công đoàn đưa mẹ về thăm quê, và chúng tôi xin được đi theo mẹ trong cuộc hành trình này...
Cũng hơi ái ngại khi việc thực hiện bộ phim này hoàn toàn không có trong kế hoạch. Nhưng mọi người trong nhóm đều có những cảm xúc đặc biệt và ấn tượng về người mẹ bản xa này, vì thế chúng tôi quyết định làm một bộ phim tài liệu về chân dung mẹ…

Suýt nữa đi 5 về 4…
Điểm nhấn mà chúng tôi muốn khắc họa trong phim là cuộc sống của một người mẹ Việt Nam anh hùng nay đã không còn người thân bên cạnh. Mẹ đang sống như thế nào? Mẹ đang có những mong ước gì?... Nhưng để mẹ nói lên những điều mẹ ấp ủ thì rất khó vì năm nay mẹ đã 89 tuổi rồi. Chúng tôi chỉ có thể thông qua những hình ảnh tả thực, những lời kể, những cuộc nói chuyện của người dân bản địa để có thể khắc họa nên chân dung của mẹ, cũng như cuộc sống của những người dân xung quanh mẹ, nơi mà mẹ đã có những ngày tháng hạnh phúc bên người con trai duy nhất đã hi sinh. Từ thành phố Sơn La về quê mẹ gần 200 cây số đường trường, phải chia làm mấy chặng khác nhau. Từ Mộc Châu tới bến đò xã Tân Hợp mất 60km. Rồi từ Tân Hợp phải đi đò hơn 10 km dọc sông Đà mới tới được bản Sao Tua là nơi mẹ sinh sống.
Nhóm làm phim chúng tôi có 5 người: tôi làm BTV, anh Thế Phong quay phim, anh Hoài Nam kĩ thuật, anh Anh Tuấn đạo diễn và anh Mạnh Trường lái xe. Hôm đó anh Trường lái xe đưa chúng tôi tới bến Tân Hợp. Ở đây người địa phương nói có thể đi xe ô tô theo đường mòn vào tới gần sát bản của mẹ. Chúng tôi quyết định bốn người trong nhóm sẽ cùng mẹ đi theo đường phà để quay cảnh sông nước, còn anh Trường sẽ cùng một người bản địa nữa đi theo đường mòn để mang thiết bị quay vào bản. Được cảnh báo trước về điều kiện thiếu thốn ở quê mẹ, nên chúng tôi đã chuẩn bị sẵn rất nhiều thiết bị. Không ngờ hôm đó trời mưa, anh Trường lái xe vượt qua một gồ đất, nhưng đất lở, đường trơn khiến xe của anh ấy cứ nhằm thẳng … vực mà lao xuống. Phải phanh cháy lốp chiếc xe mới kịp dừng lại chênh vênh bên bờ vực. Gọi điện cho chúng tôi thì điện thoại mất sóng, anh Trường phải nhờ mấy thanh niên đi rừng cố nâng xe trở lại đường cũ và hi vọng chờ đợi.
Buổi chiều hôm sau khi đoàn chúng tôi xong việc trở về, trời mưa to hơn nên không đi được bằng đường phà vì sóng lớn. Cả nhóm phải quốc bộ theo đường mòn. May quá, ông giám đốc mỏ khai thác đồng đang trên đường đi khảo sát có lòng tốt chở cả đoàn đi ngược lại con đường mòn ra khỏi bản. Xe ông ấy đi tới gần vực thì chúng tôi gặp anh Trường. Lúc ấy cả đoàn mới có cơ hội gặp lại nhau,anh em mừng rỡ rôm rả kể chuyện suốt con đường về Mộc Châu. Thật hú hồn, suýt nữa thì đã đi 5 về 4.
Người Sao Tua khát… điện
Khi được ngồi trò truyện, tâm sự với người dân ở bản, ai cũng nói điều họ mong mỏi hiện nay là “ điện, đường, trường, trạm”,nhưng mong mỏi nhất,khát khao nhất vẫn là điện. Quả đúng như vậy, điện và môi trường tác nghiệp là khó khăn lớn nhất của chúng tôi khi thực hiện bộ phim tài liệu này.
Đến tận bây giờ người dân ở bản Sao Tua vẫn chưa có điện lưới. Cả bản có khoảng hơn 50 hộ, cứ một vài hộ lại chung nhau mua một chiếc máy nổ. Mọi công việc người dân nơi đây đều phải hoàn thành vào trong lúc trời còn sáng. Buổi tối công suất chiếc máy nổ cũng chỉ đủ để mỗi nhà thắp một cái bóng đèn tuýp, một cái bóng đèn nhỏ và bật một cái tivi cho cả bản xem. Đó chính là cuộc sống mà mẹ, con trai mẹ và những người hàng xóm của mẹ đã trải qua.
Thông thường để quay các cảnh vào buổi tối cần rất nhiều thiết bị đèn chiếu sáng. Nhưng trong hoàn cảnh không có điện như thế này cả đoàn cũng đành phải “tát nước theo mưa”. 6h30 trời tối om mới có người xuống nổ máy phát. Mà thực ra cũng chỉ đủ xăng để chạy tới 10h đêm thôi. Trong khoảng thời gian đó, cả đoàn cứ làm việc miệt mài với duy nhất … một cái bóng đèn. Nhà nào cũng chỉ có hai đường dây điện với hai cái đui đèn, nên dù chúng tôi có bóng đèn cũng… chịu, không có chỗ để lắp thêm. Thiếu sáng quá, chúng tôi đành tận dụng cả ánh sáng hắt ra cả ti vi nhưng cũng chẳng ăn thua gì. Quay phim đã phải mở rộng hết cỡ ống kính đề lấy sáng, vì vậy hình bị vỡ và không thể lấy nét căng được mặt. Nhưng cũng phải chịu thôi…
Thiếu điện cũng là lí do ảnh hưởng tới thiết bị rất nhiều. Ngay ngày quay đầu tiên, thẻ nhớ của chúng tôi hết dung lượng, bắt buộc phải chuyển hình ảnh đã quay qua máy tính để quay tiếp. Phải đợi tới lúc sẩm tối khi người dân bản chạy máy nổ, chúng tôi mới có thể mở một cái laptop để chuyển dữ liệu từ thẻ nhớ sang. Tôi vẫn nhớ, để chúng tôi có thể mở cái máy tính này, người dân chúng tôi tá túc đã tắt hết thiết bị điện trong nhà và phải nấu ăn bằng ánh sáng… đèn pin. Cũng may kĩ thuật hôm ấy trước khi đi đã cẩn thận sạc rất đầy hai cục pin máy quay, chứ đang quay mà hết pin thì cũng bó tay không biết làm thế nào…
Có làm việc trong điều kiện thiếu điện như thế mới hiểu người dân ở đây… khát điện như thế nào. Cuộc sống của người dân bản Sao Tua rất bình lặng. Phụ nữ ngoài chăm lo gia đình thì làm ruộng, dệt vải. Đàn ông con trai ra đồng trồng ngô, làm rẫy, tối về có niềm vui gặp nhau và quây quần bên bếp lửa. Nhưng chúng tôi biết trong thâm tâm họ vẫn mong có một cuộc sống khác hơn, đầy đủ hơn. Mà đầy đủ với họ đơn giản lắm: chỉ cần có ít điện thôi. Ông Mùi Văn Dương, bí thư xã đã tâm sự rất thật khiến chúng tôi đi làm nghề cũng thấy chạnh lòng: “cán bộ là người không biết nói dối, nhưng không hiểu sao cứ hết cán bộ về, cán bộ ra, cứ hứa lên hứa xuống sẽ có điện mà đến mấy năm rồi chẳng thấy đâu. Chúng tôi ở đây mong điện như cha mong đứa con hiếm muộn vậy….”

Những chén rượu ân tình
Tôi nhớ nhất về bản Xa là những con người chân thật. Ở đó họ chẳng có gì ngoài… rượu. Chúng tôi bắt đầu đi từ Mộc Châu lúc 8h sáng, khoảng 11h thì tới bản Xa. Họ mời cả nhóm ăn uống, sau đó chiều làm việc. 7h tối lại bắt đầu uống, uống cho tới tận 4h sáng. Rượu của bản Sao Tua chỉ nấu từ sắn, đựng trong những cái can to đùng 20 lít. Cứ uống đâu rót đó. Vừa uống vừa trò chuyện. Họ chúc nhau bằng rượu, bộc lộ tình cảm, sự trân trọng, lòng tri ân và cả nỗi niềm riêng qua chén rượu nhạt men lá của đồng bào Mường… Người nói, rượu nói chưa hết thì lại để dành chỗ cho tiếng Pí thui – cây sáo đặc biệt của người Mường trong đêm khuya… Hết chuyện cũng đã là 4h sáng.
Cả nhóm chỉ tranh thủ chợp mắt 2 tiếng, rồi 6h sáng lại lục đục dậy làm việc. Hai ngày quay ở bản Xa, chúng tôi phải uống tới 5 bữa rượu. May rượu của họ không nặng lắm, mà bản thân mỗi người trong nhóm cũng xác định mình đi làm nên chỉ uống cầm chừng, vì thế không có ai say. Chúng tôi uống tiếp họ thôi, họ nhiệt tình, thân thiện lắm…
Những trải nghiệm về một cuộc sống khác…
Hai ngày làm phim ngắn ngủi cũng đủ để chúng tôi trải nghiệm được rất nhiều nếp sống văn hóa của người Mường.
Người Mường bao giờ cũng uống hai chén rượu liền nhau. Phải uống hai chén rồi mới ăn. Trong bữa cơm, cách để đũa cũng bày tỏ thái độ của người đó với bữa ăn. Nếu để ngang đũa trên bát tức là họ đứng dậy nhưng vẫn ăn tiếp. Để dọc đũa dưới mâm tức là không ăn nữa. Còn để ngang và hai đũa tách xa nhau là kiến quyết không muốn ăn gì nữa. Người đối diện cứ nhìn cách họ để đũa mà ứng xử.
Khi nhà có người mất, người Mường bao giờ cũng rót ra một chén rượu để riêng. Họ sẽ nói một câu tiếng Mường với chén rượu để mời người mất về ăn bữa cơm gia đình.
Sinh hoạt của người Mường hoàn toàn khác so với cuộc sống mà chúng tôi trải qua, nó khiến cho chúng tôi có những cảm xúc rất đặc biệt. Người Mường ở nhà sàn. Sàn lót làm bằng tre, nứa. Nhưng họ ngủ trên sàn gỗ cao khoảng 30cm, trên đó lát gỗ mát và trải đệm. Đệm của người Mường đặc biệt lắm. Đó là một loại đệm gạo. Người ta tuốt lúa rồi lấy toàn bộ phần vỏ trấu nhét vào trong làm lõi đệm. Sau đó bọc nhiều lớp vải xô bên ngoài. Lớp vải ngoài cùng thì thêu đầy những hoa văn trang trí của người Mường, nhìn qua thì lòe loẹt, nhìn kĩ lại thấy rất nhiều cung bậc cảm xúc của người thêu trong đó. Sờ vào có cảm giác cái đệm đó thật cứng, thật rắn, nhưng nằm lại thấy vô cùng êm và ấm.
Người Mường chỉ làm nhà một tầng, nhưng lại rất rộng. Mặt bằng một cái nhà sàn khoảng 80m2, mọi người đều ngủ trên mặt sàn đó. Mỗi người một tấm đệm dài 2m, rộng 60cm, một chăn, một gối riêng và ngủ. Mà ngay cả chăn, gối của học cũng làm bằng gạo. Người Mường hầu như không mua thứ gì, mọi thứ đều là sản phẩm tự cung tự cấp hết…
Kết thúc chuyến đi dài ngày, dù “Người mẹ bản xa” là bộ phim phát sinh hoàn toàn không có trong kịch bản, nhưng đó lại là bộ phim mà anh em trong đoàn tâm đắc nhất. Vùng đất của Mẹ là vùng đất của những con người với cuộc sống mà chúng tôi chưa từng biết qua. Những ngày làm phim đã giúp chúng tôi hiểu được một phần cuộc sống của họ. Những người dân Mường ấy, họ đã sống như thế nào, họ khát khao điều gì…
Khánh Toàn


Bình luận