Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.
Điểm mới có ý nghĩa căn bản của Đại hội lần này không nằm ở việc đặt ra những khát vọng dài hạn, mà ở cách tiếp cận phát triển rất thực tế: mọi mục tiêu chiến lược chỉ có giá trị khi được kiểm chứng bằng hành động cụ thể, bằng kết quả đo đếm được trong từng giai đoạn, đặc biệt là trong 5-10 năm bản lề phía trước - giai đoạn quyết định việc đất nước bứt phá hay tụt hậu.

Chìa khóa để bứt phá và tránh nguy cơ tụt hậu
TS Nguyễn Sĩ Dũng, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cho biết, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 tiếp tục được Đại hội XIV của Đảng khẳng định như một đích đến chiến lược của dân tộc.
Điểm mới rất căn bản của Đại hội lần này, theo TS Dũng, là cách tiếp cận mục tiêu phát triển không còn dừng ở tầm khát vọng chung chung, mà được đặt trong một logic phát triển thực tế, chặt chẽ và có khả năng kiểm chứng.
Ông Dũng phân tích, thu nhập cao không thể đạt được nếu tiếp tục dựa vào lao động giá rẻ; phát triển bền vững không thể dựa vào khai thác tài nguyên hay mở rộng đầu tư đơn thuần; và hội nhập sâu không thể thành công nếu năng lực nội tại của nền kinh tế không được nâng lên tương xứng.
"Từ nhận thức đó, Đại hội XIV gửi đi một thông điệp rõ ràng: Tầm nhìn chỉ có giá trị khi được kiểm chứng bằng hành động cụ thể, bằng những kết quả đo đếm được trong từng giai đoạn phát triển.
Chính sự gắn kết chặt chẽ giữa tầm nhìn 2045 và yêu cầu hành động hôm nay đã tạo nên dấu ấn nổi bật của Đại hội XIV, đồng thời mở ra một giai đoạn phát triển mới, nơi mọi chủ trương đều phải đi kèm năng lực tổ chức thực hiện", TS Dũng nhấn mạnh.
Để hiện thực hóa tầm nhìn dài hạn đó, Đại hội XIV đã xác lập rõ những định hướng chiến lược mang tính "phải làm", thay vì những lựa chọn có thể trì hoãn.
Trước hết là chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, lấy năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng làm nền tảng.
"Đây được xác định là điều kiện tiên quyết để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và tiến tới nhóm quốc gia thu nhập cao. Định hướng này đặt ra yêu cầu hành động rất cụ thể đối với từng ngành, từng địa phương, trong đó có nông nghiệp - lĩnh vực vừa là trụ đỡ của nền kinh tế, vừa là không gian lớn cho đổi mới sáng tạo", ông Dũng nói.
Bày tỏ đồng tình với chủ trương nêu trong Văn kiện Đại hội XIV về việc xác lập mô hình tăng trưởng mới với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, TS Trần Văn Khải, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, cho rằng, đây là quyết sách có tầm nhìn chiến lược, phù hợp với xu thế thời đại và đòi hỏi cấp bách của thực tiễn phát triển đất nước ta trong giai đoạn mới.

ts tran van khai.jpg
Muốn phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số, không có con đường nào khác ngoài phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo
TS Trần Văn Khải
Thực tế, Đảng ta đã kịp thời nắm bắt xu thế của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, coi khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là "đòn bẩy" quan trọng thúc đẩy tăng trưởng.
"Việc nhấn mạnh chuyển đổi số và kinh tế số cho thấy chúng ta quyết tâm xây dựng một phương thức phát triển mới, giảm phụ thuộc vào các lợi thế truyền thống như lao động giá rẻ hay khai thác tài nguyên. Theo tôi, đây chính là chìa khóa để Việt Nam bứt phá và tránh nguy cơ tụt hậu trong thập niên tới", ông Khải nhấn mạnh.
Ông Khải cho biết, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo từ lâu đã trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế. Những quốc gia vươn lên mạnh mẽ đều dựa vào sức mạnh công nghệ và tri thức.
Ví dụ như Hàn Quốc từ một nước nghèo đã trở thành cường quốc công nghiệp nhờ đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu và phát triển (R&D) với mức chi hơn 5% GDP, thuộc hàng cao nhất thế giới.
Singapore cũng nằm trong nhóm dẫn đầu toàn cầu về đổi mới sáng tạo (xếp hạng 5/139 nền kinh tế theo Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu 2025), minh chứng cho tầm quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao và chính sách khuyến khích sáng tạo.
Gần đây, Trung Quốc xác định chiến lược tự lực về công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn. Quốc gia này liên tục tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ với tỷ lệ chi R&D năm 2024 đạt 2,68% GDP (tăng từ 2,38% năm 2021). Sự tập trung đó nhằm thúc đẩy tự chủ công nghệ, tạo động lực tăng trưởng mới và cạnh tranh vị thế siêu cường trong tương lai.
"Những bài học quốc tế trên cho thấy rõ muốn phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số, không có con đường nào khác ngoài phát triển mạnh mẽ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo", ông Khải nói.
Với Việt Nam, theo Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường, việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và số hóa càng mang ý nghĩa sống còn.
"Sau gần 40 năm Đổi mới, chúng ta đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng mô hình tăng trưởng cũ dựa vào vốn và lao động giản đơn đang dần bộc lộ hạn chế. Năng suất lao động của ta vẫn còn thấp so với các nước phát triển, tốc độ tăng năng suất có dấu hiệu chững lại, và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn hiện hữu. Muốn vượt lên, phải dựa vào động lực mới là tri thức và sáng tạo", TS Khải khẳng định.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thống nhất tuyệt đối bầu đồng chí Tô Lâm giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. (Ảnh: TTXVN)
Đất nước hội tụ đủ "thế - lực - niềm tin"
TS Nguyễn Sĩ Dũng cũng đưa ra nhận định, Đại hội XIV không chỉ tổng kết một chặng đường đã qua, mà quan trọng hơn, đã xác lập một "thời điểm quyết định" của lịch sử phát triển quốc gia, nơi mà tương lai 20-30 năm sau phụ thuộc rất lớn vào những lựa chọn, hành động và kỷ luật thực thi trong 5-10 năm trước mắt.
"Có thể khẳng định, lần đầu tiên, tầm nhìn phát triển dài hạn của đất nước được đặt trên một nền tảng hội tụ đủ ba điều kiện căn bản: thế - lực - niềm tin", ông Dũng bày tỏ.
Về "thế" - vị thế quốc gia đã thay đổi căn bản, TS Dũng khẳng định, sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam không còn là một nền kinh tế đang "đuổi theo", mà đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu; là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của hầu hết các cường quốc; có uy tín chính trị ngày càng cao trên trường quốc tế.
Đó là một "thế đứng" mới, cho phép chúng ta chủ động lựa chọn mô hình phát triển, chứ không chỉ thích ứng bị động như trước.

nguyen si dung.png
Đảng đã nhìn thẳng vào điểm nghẽn lớn nhất của phát triển là thể chế và năng lực thực thi, để coi cải cách thể chế, đổi mới quản trị quốc gia là đột phá trung tâm trong giai đoạn tới
TS Nguyễn Sĩ Dũng
Về "lực" - nội lực phát triển đã tích lũy đủ độ chín, theo vị chuyên gia, quy mô nền kinh tế đã tăng lên nhiều lần so với thời điểm bắt đầu Đổi mới; hạ tầng chiến lược, đặc biệt là giao thông, năng lượng, đô thị và hạ tầng số, đã tạo ra những "đường băng" phát triển mới; khu vực kinh tế tư nhân ngày càng lớn mạnh; đội ngũ doanh nhân, trí thức, cán bộ khoa học - công nghệ đã hình thành một lớp lực lượng sản xuất mới.
"Quan trọng hơn, Đảng đã nhìn thẳng vào điểm nghẽn lớn nhất của phát triển là thể chế và năng lực thực thi, để coi cải cách thể chế, đổi mới quản trị quốc gia là đột phá trung tâm trong giai đoạn tới", ông Dũng nhấn mạnh.
Và cuối cùng là "niềm tin" - xã hội đã sẵn sàng cho một bước phát triển cao hơn. Ông Nguyễn Sĩ Dũng cho biết, Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước được củng cố rõ rệt thông qua những nỗ lực chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tinh gọn bộ máy, đề cao trách nhiệm và kỷ luật thực thi. Đây là điều kiện đặc biệt quan trọng, bởi mọi bước nhảy vọt về phát triển đều cần một nền tảng niềm tin xã hội đủ mạnh.
"Chính từ sự hội tụ đó, Tổng Bí thư Tô Lâm cho rằng: '5 - 10 năm tới là giai đoạn bản lề có ý nghĩa quyết định đối với hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước'. Đây là một nhận định mang tính lịch sử. Nhưng đây không đơn thuần là dự báo mà còn là lời cảnh báo chiến lược", TS Dũng nói.
Theo ông Dũng, giai đoạn này là điểm giao nhau giữa cơ hội và rủi ro. Nếu tận dụng tốt, Việt Nam có thể vượt qua "bẫy thu nhập trung bình", hình thành mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và quản trị hiện đại, qua đó tạo nền tảng vững chắc để trở thành nước phát triển vào năm 2045.
Ngược lại, nếu chậm trễ cải cách, đặc biệt là cải cách thể chế và nâng cao năng lực thực thi, chúng ta có thể bỏ lỡ "cửa sổ cơ hội" hiếm hoi trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt và bất định.




Bình luận