• Bình luận

  • Facebook

  • Twitter

  • Zalo

    Zalo

  • Copy

10 năm Truyền hình số mặt đất Việt Nam

Phóng viên23/08/2011 12:26:00 +07:00
23/08/2011 12:26:00 +07:00
Google News

Có đi mới thành đường. Đó là con đường đưa tín hiệu truyền hình kỹ thuật số (digital) mặt đất đầu tiên ở Việt Nam lên sóng vào năm 2001 của Công ty VTC

   Có đi mới thành đường. Đó là con đường đưa tín hiệu truyền hình kỹ thuật số (digital) mặt đất đầu tiên ở Việt Nam lên sóng vào năm 2001 của Công ty VTC - Mà nay là Tổng Công ty Truyền thông đa phương tiện VTC. Chỉ chậm hơn nước triển khai đầu tiên trên thế giới là nước Anh có 3 năm.

 

 

So sánh với một trong bảy nước công nghiệp phát triển là nước Anh, là để nói tới cái khác biệt khi họ “mở đường”. Nước Anh mở đường bằng “máy xẻ núi - cắt rừng”. Còn ta lại mở đường bằng “đôi chân trần” đi rồi thành đường. Có gai đâm, lá sắc cắt, và đá nhọn cào xé trầy xước.

Dùng hình ảnh ấy là để dễ hình dung ra những cái đầu “nóng công nghệ” và những đôi tay “tuyệt chiêu” của nhóm tác giả làm truyền hình số mặt đất của VTC. Họ tận dụng hệ thống các thiết bị tương tự (analog) sẵn có, cải tiến để triển khai xây dựng hạ tầng mạng truyền hình kỹ thuật số mặt đất. Nó bao gồm các công việc: Cải tiến để chuyển đổi máy phát hình analog thành máy phát hình digital. Chỉ sử dụng một máy phát hình số mà phát được 2 kênh sóng liền kề. Ghép kênh máy phát truyền hình số với máy phát analog chung một hệ thống anten. Rồi xử lý tín hiệu nén, ghép, động để tăng hiệu quả băng thông. Chế tạo settopbox chuyển đổi tín hiệu số sang tín hiệu A/V để kết nối vào tivi analog sẵn có tại hàng triệu gia đình Việt Nam đang dùng để thu được tín hiệu truyền hình số mặt đất.

Nhóm tác giả nghiên cứu, thử nghiệm truyền hình số ấy có 9 người.

Tôi chọn một người trẻ nhất trong số họ để chuyện trò: Kỹ sư Lê Văn Khương, sinh năm 1974. Hiện anh đang là Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty truyền thông đa phương tiện VTC. Nhưng vào cái năm ấy anh mới 25 tuổi, cái tuổi say mê là quyết chí làm.

 - Tôi còn chưa biết ý tưởng làm truyền hình số mặt đất được nhen nhóm từ khi nào?

- Trong chuyến đi Singapore với Sếp Tần năm 1999, khi ở đó đang xây dựng một trạm phát sóng truyền hình số mặt đất, hình như cho Đài BBC. Tôi gạ Sếp Tần, ta xem, rồi có thể nghiên cứu đưa công nghệ này vào Việt Nam, tất nhiên là làm theo cái cách của con nhà nghèo. Những người cán bộ kỹ thuật làm việc ở lĩnh vực truyền hình không thể chậm chân, chịu thua thiệt với các nước khác trên thế giới. Chúng tôi hình thành “Nhóm chủ động”, nghiêm túc bắt tay vào việc tìm hiểu, nghiên cứu, học hỏi, phân tích, đánh giá những ưu điểm, nhược điểm của từng hệ và lựa chọn, đi đến quyết định triển khai thử nghiệm hệ phát hình số theo tiêu chuẩn châu Âu DVB-T như nước Anh đã chọn, suy tính tìm ra cách thức thử nghiệm, triển khai sao cho phù hợp nhất với hoàn cảnh Việt Nam. Đó là tận dụng hệ thống thiết bị analog sẵn có.

 - Thái độ của Sếp Tần khi ấy?

- Sếp hỏi “Chắc không?” “Chắc!” Sếp hoan nghênh. Sếp hứa bật đèn xanh. Nhưng Sếp rút ở túi áo ra một bản cam kết yêu cầu chúng tôi ký. Trong đó có một điều khoản “Không thành, phải bồi thường!”

 - Cả nhóm ký chứ?

- (Cười) Có mỗi mình tôi!

- Năm ấy anh có vợ chưa?     

- Không nhớ! Khi ấy tôi ở tập thể. Tài sản có độc chiếc xe đạp.

 Vào năm ấy tôi có nghe, nhưng chưa biết, người mà Lê Văn Khương gọi là “Sếp Tần”. Tới cách nay 3 năm mới quen biết ông khi ông đang ở cương vị Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Tổng Công ty truyền thông đa phương tiện VTC: Tiến sĩ Thái Minh Tần – Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Kiến trúc sư VTC, Người thuyền trưởng Con tàu VTC của một Đơn vị Anh hùng thời kỳ đổi mới,

Qua vài lần dự Hội nghị tổng kết, Giao ban đầu năm và Phát động thi đua của Tổng Công ty mà ông chủ trì; cùng đôi lần dự giao ban với Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC có ông tham dự, ông để lại trong tôi những ấn tượng mang cảm giác sờ mó được, có mảng khối góc cạnh như những nhát rìu trên tượng gỗ độc mộc ở Tây Nguyên: Ông nắm chắc kỹ những điều ông nói. Thái độ thẳng tưng như khúc tre ngà. Ngôn từ căng cấn đến sửng sốt. Để rồi sau đó tình đồng chí tình người đầy thuyết phục lại nằm ở những lời cuối.

Tổng Giám đốc Thái Minh Tần phê bình các Phó tổng gay gắt “lên bờ xuống ruộng”, để rồi sau đó cầu mong họ sự cảm thông ở cương vị ông “phải nói, không thể đừng”. Ông ký quyết định sa thải một cán bộ cấp lãnh đạo kênh, mà ông lại đau: Tiếc, cha ấy có một khả năng trội mà không giữ lại được để dùng. Ông hỏi chị Giám đốc Đài có biết chuyện một phóng viên nữ có chuyên môn khá ở một kênh đang có ý định xin chuyển đi nơi khác? Rồi ông trách, chị là phụ nữ, gọi em nó lên tâm sự xem nó có khó khăn gì có thể cùng tìm cách giải quyết. Chúng có khó khăn mà mình không biết. Chúng xin đi hết lấy ai sản xuất chương trình? Còn ai để chị lãnh đạo?

Một Tổng Giám đốc ở nơi cao rất cao, lại biết cả khó khăn của một phóng viên ở tít tịt nơi thấp của một đơn vị trong tổng số hàng ngàn nhân sự toàn Tổng Công ty rải khắp trong và ngoài nước, thì đừng ai dại mà dấu ông điều gì. Trở lại việc ông yêu cầu cái “Nhóm nghiên cứu” truyền hình số mặt đất ký cam kết, là đã tin họ, rất tin họ không thể thất bại. Là để quy trách nhiệm. Chứ đâu ông nghĩ tới việc bắt anh kỹ sư trẻ Lê Văn Khương lấy vợ chưa cũng không nhớ, ở nhà tập thể, “ăn cơm suất bốn nằm giường cá nhân”… đền bù. Tài sản chỉ có độc một chiếc xe đạp cà tàng lấy gì ra bồi thường.

 - Công nghệ truyền hình số mặt đất có gì hấp dẫn?

- Việc áp dụng công nghệ số trong truyền hình cũng như bất cứ lĩnh vực truyền dẫn nào khác, sẽ mang lại chất lượng tín hiệu đảm bảo, không bị suy hao cũng như tác động của can nhiễu trên đường truyền. Đối với truyền hình số nói chung và truyền hình số mặt đất nói riêng, trước hết là với người xem truyền hình, nó cho chất lượng hình ảnh sắc nét, âm thanh trung thực. Đối với nhà cung cấp dịch vụ, nó cho phép thu di động, tích hợp các chương trình phát thanh và các dịch vụ truyền dẫn dữ liệu khác. Lại có thể tách ghép chương trình trên cùng một hạ tầng truyền dẫn phát sóng. Mà một máy phát sóng có thể phát nhiều chương trình trên một kênh sóng. Mở ra khả năng mới cho truyền hình HD, truyền hình 3D, mà mạng analog không thể thực hiện được.

Những gì các anh làm phía sau tivi không ai biết. Người dân chỉ biết màn hình phía trước tivi ở gia đình họ thôi, sẽ lung linh sắc màu, không bị ảnh hưởng nhiễu công nghiệp – thời tiết, cho hình ảnh mịn màng sắc nét, vĩnh biệt bóng chờm bóng, mà căn nhà cấp bốn của họ nằm giữa đô thành hai chục năm nay phải sống trong cảnh “vùng sâu” “vùng xa” của sóng truyền hình.

- Anh đảm nhận khâu nào trong nhóm “truyền hình số mặt đất” ấy?

- Worker và working!

Thật thú vị. Tôi yêu worker nhưng phải là anh thợ giỏi nghề và sành nghề. Anh Khương à! Suốt 40 năm làm báo tôi chỉ làm công việc của worker-viết báo. Cho tới bây giờ tôi lại đang làm worker cho một cô chủ nhỏ. Bởi “nghề” nó mới là của mình. Những thứ khác là của người ta cho. Mà tôi thì chúa sợ bị hẫng hụt khổ đau khi người ta không còn ưa mình nữa người ta đòi.

Lê Văn Khương cười khành khạch. Trong nhóm của anh trước sau có 9 người: Tiến sĩ Thái Minh Tần, kỹ sư Lê Văn Khương, thạc sĩ Lê Kinh Lộc, tiến sĩ Lưu Vũ Hải, tiến sĩ Phạm Đắc Bi, kỹ sư Nguyễn Hữu Nhiếp, thạc sĩ Phạm Quốc Dũng, thạc sĩ Nguyễn Hà Yên, và Giám đốc Đài PT-TH tỉnh Bình Dương Nguyễn Trung Hiếu, người mà năm 2002 đã nhanh nhạy phối hợp với VTC triển khai thử nghiệm truyền hình số tại khu vực Nam Bộ với trạm phát sóng đặt tại Đài Bình Dương với 16 kênh truyền hình trên 2 máy phát có vùng phủ sóng bán kính 100 ki-lô-mét.

 

Sẽ rất nhiêu khê nếu kể lể chi tiết. Phổ quát là thế này:

- Sau khi nghiên cứu, cải tiến (phẩm chất này người Việt rất giỏi), ngày 19 tháng 12 năm 2000, “Nhóm thực hiện” đã phát sóng tín hiệu truyền hình số đầu tiên ở Việt Nam tại 65 Lạc Trung – Hà Nội với một máy phát được cải tiến từ máy phát hình analog trên độ cao anten 60 mét, và phát 4 kênh truyền hình với chất lượng đảm bảo tiêu chuẩn. Sự kiện này đánh dấu một mốc quan trọng trong việc triển khai các bước tiếp theo của công trình, là sở cứ thực tiễn cho cơ quan quản lý nhà nước hoạch định định hướng cho ngành truyền hình Việt Nam.

- Đầu năm 2001, VTC nâng công suất trạm phát sóng thử nghiệm tại Hà Nội lên chính thức, tăng số lượng kênh truyền hình lên 16 kênh với hai máy phát sóng, và thử nghiệm trạm phát lặp lại bằng kỹ thuật repeater / gap filler tại Phủ Liễn – Hải Phòng.

- Như vậy, năm 2001, Việt Nam chính thức có tên trên bản đồ các nước triển khai DVB-T, chỉ chậm hơn nước phát triển đầu tiên công nghệ này (nước Anh) có ba năm.

- Đầu năm 2002, VTC phối hợp với Đài PT-TH tỉnh Bình Dương triển khai thử nghiệm truyền hình số tại khu vực Nam Bộ với 16 kênh truyền hình trên hai máy phát có vùng phủ sóng bán kính 100 ki-lô-mét.

- Năm 2003, VTC thử nghiệm thành công phát sóng hai kênh số liền kề trên một máy phát sóng, mở ra một giải pháp vô cùng hữu ích: Tiết kiệm máy phát sóng, tiết kiệm tần số, điều mà từ trước đến thời điểm đó chưa có tiền lệ.

- Giải pháp kỹ thuật phát sóng truyền hình số mặt đất của VTC (chuyển đổi máy phát hình analog thành máy phát hình digital theo tiêu chuẩn DVB-T) đã tạo căn cứ để ngày 26-3-2001 Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam ký quyết định chọn DVB-T là tiêu chuẩn truyền hình số mặt đất cho truyền hình Việt Nam.

- Và ngày 5-4-2005 Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm ký văn bản cho phép VTC mở rộng mạng truyền hình số mặt đất ra diện rộng, và giao cho VTC nghiên cứu thử nghiệm dịch vụ đa phương tiện trên truyền hình số mặt đất.

- Ngay sau đó, VTC triển khai mở rộng mạng truyền hình số mặt đất ra nhiều tỉnh thành. Đến nay mạng số mặt đất đã phủ sóng trên 40 tỉnh thành trong cả nước, đang được mở rộng ra các huyện, xã, vùng sâu vùng xa.

- Cùng thời điểm này, Đài truyền hình Kỹ thuật số VTC ra đời đặt tại Hà Nội mang quy mô quốc gia, được Hiệp hội Phát thanh – Truyền hình châu Á – Thái Bình Dương (ABU) kết nạp làm thành viên vào năm 2006, nơi tôi và kỹ sư Lê Văn Khương đang ngồi trò chuyện đây, nay, đang phát sóng 100 kênh truyền hình, trở thành đơn vị cung cấp số kênh truyền hình lớn nhất Việt Nam, trong đó có 28 kênh truyền hình số mặt đất quảng bá miễn phí, 72 kênh còn lại là truyền hình trả tiền công nghệ cao HD và đang phát thử nghiệm truyền hình 3D, công nghệ truyền hình hiện đại nhất thế giới.

Vậy là VTC đã xây dựng được phương án tổng thể cho mạng truyền hình số từ khâu sản xuất, khai thác chương trình, đến xây dựng mạng truyền dẫn phát sóng, sản xuất thiết bị đầu cuối (Settopbox) đem lại hiệu quả kinh tế - kỹ thuật rất lớn, là tận dụng được khối thiết bị thu - phát truyền hình truyền thống analog trong các gia đình và các đài truyền hình trong cả nước.

Công trình đưa công nghệ truyền hình số mặt đất tiêu chuẩn châu Âu ban hành DVB-T (digital video broadcasting – Terrestial) triển khai vào thực tế ( từ 1999 đến 2006) của VTC đã chứng minh được rằng: Mặc dù đất nước ta còn chưa phát triển bằng các quốc gia khác như Anh, Mỹ, Đức, nhưng chúng ta đã tiến kịp họ trong việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhất trong lĩnh vực truyền hình. Điều đó đã được đánh giá cao trong các Hội nghị thường niên của ABU và các Hội nghị Quốc tế khác, coi Việt Nam là một điểm nhấn trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương về triển khai truyền hình số.

Chắc chắn rồi, từ lợi ích việc triển khai thành công mạng phát sóng truyền hình diện rộng của VTC, cũng như tác động của nó tới người xem truyền hình, mà ngày 16-2-2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định phê duyệt quy hoạch truyền dẫn phát sóng phát thanh – truyền hình đến năm 2020, trong đó nêu rõ: “Từng bước triển khai lộ trình số hóa mạng truyền dẫn - phát sóng truyền hình số mặt đất phù hợp với điều kiện thực tế về thiết bị thu truyền hình số của người dân trên từng địa bàn cụ thể. Về cơ bản sẽ ngừng phát sóng truyền hình mặt đất công nghệ tương tự (analog) để chuyển sang phát sóng truyền hình mặt đất công nghệ số (digital) khi 95% số hộ gia đình có máy thu hình có khả năng thu được các kênh chương trình truyền hình quảng bá bằng những phương thức truyền dẫn và phát sóng số khác nhau”. Ngày 19-7-2010 Thủ tướng Chính phủ ký tiếp quyết định phê duyệt truyền hình số mặt đất là 1 trong 46 công nghệ được ưu tiên đầu tư và phát triển. Các sản phẩm liên quan đến truyền hình số mặt đất là 1 trong 76 danh mục thuộc danh mục các sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. Và cũng trong năm 2010, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận VTC trở thành Tập đoàn Truyền thông đa phương tiện.

Giang Lân


Bình luận
vtcnews.vn