Người yêu ‘bắt cá hai tay’, đòi lại tiền và nhà đất đã tặng họ được không?

09/03/2026 08:41:17 +07:00
(VTC News) -

Khi có tình cảm người ta có thể cho mọi thứ nhưng khi không còn tình cảm thì một đồng cũng muốn đòi, vậy đòi lại tiền nhà đất tặng cho người khác được không?

Đòi lại tiền, nhà đất đã tặng cho người khác được không?

Theo quy định tại Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng tặng cho tài sản: "Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận."

Theo đó, hợp đồng tặng cho là hợp đồng được lập dựa trên sự thỏa thuận của các bên. Bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận. Khi hợp đồng tặng cho đã được ký kết và có hiệu lực thì quyền sở hữu tài sản đã được chuyển giao cho bên nhận tài sản.

Khi có tình cảm người ta có thể cho mọi thứ nhưng khi không còn tình cảm thì một đồng cũng muốn đòi, vậy đòi lại tiền nhà đất tặng cho người khác được không? (Ảnh minh họa: AI tạo)

Khi có tình cảm người ta có thể cho mọi thứ nhưng khi không còn tình cảm thì một đồng cũng muốn đòi, vậy đòi lại tiền nhà đất tặng cho người khác được không? (Ảnh minh họa: AI tạo)

Căn cứ Điều 458 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về tài sản tặng cho là động sản như sau:

"Điều 458. Tặng cho động sản

1. Hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Đối với động sản mà luật có quy định đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký."

Ngoài ra, tại Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về tài sản tặng cho là bất động sản như sau:

Điều 459. Tặng cho bất động sản

1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Như vậy, đối với trường hợp tặng cho tài sản là bất động sản thì việc tặng cho phải được lập văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.

Kể từ khi nhận được tài sản chuyển giao, hợp đồng tặng cho tài sản sẽ có hiệu lực và người yêu bạn sẽ có quyền sở hữu với số tiền, bất động sản trên. Đồng thời, hợp đồng tặng cho có hai dạng là tặng cho có điều kiện và tặng cho không có điều kiện.

Nếu việc đưa số tiền, bất động sản cho người yêu là hoàn toàn tự nguyện, người tặng không yêu cầu, người nhận cũng không đề cập tặng tiền, bất động sản có kèm theo điều kiện gì hay không thì có thể được xét vào hợp đồng tặng cho tài sản không có điều kiện.

Căn cứ quy định tại Điều 238 Bộ luật Dân sự 2015, khi chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu của mình cho người khác thông qua hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, hợp đồng chuyển quyền sở hữu khác theo quy định của pháp luật hoặc thông qua việc để thừa kế thì quyền sở hữu đối với tài sản của người đó chấm dứt kể từ thời điểm phát sinh quyền sở hữu của người được chuyển giao.

Như vậy, theo quy định trên thời điểm người tặng chuyển giao tiền, bất động sản đồng cho người yêu đã là hành động chấm dứt quyền sở hữu đối với số tiền, bất động sản đó. Lúc này, người tặng không có quyền gì đối với số tiền, bất động sản đó nữa. Trường hợp này thì việc bên tặng đòi lại số tiền đã cho người yêu là không có căn cứ pháp luật.

Tặng cho có điều kiện: Căn cứ pháp lý để yêu cầu hoàn trả

Tuy nhiên, bên tặng cho tài sản có quyền đòi lại tài sản nếu hợp đồng tặng cho tài sản là loại hợp đồng tặng cho có điều kiện.

Căn cứ Điều 462 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hợp đồng tặng cho có điều kiện như sau:

"Điều 462. Tặng cho tài sản có điều kiện

1. Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3. Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại."

Theo đó, đối với hợp đồng tặng cho có điều kiện thì bên nhận tài sản có nghĩa vụ thực hiện các điều kiện được ghi trong hợp đồng tặng cho.

Trường hợp bên nhận tài sản không thực hiện các điều kiện kèm theo thì bên tặng cho tài sản có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, có thể các cứ vào các điều kiện của hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

"Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định."

Theo đó, trường hợp hợp đồng tặng cho tài sản không đảm bảo các điều kiện của hợp đồng thì hợp đồng sẽ bị xem là vô hiệu

Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

"Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định."

Như vậy, trường hợp hợp đồng tặng cho tài sản bị vô hiệu thì theo quy định các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Khi đó, bên tặng cho tài sản có quyền yêu cầu bên nhận tài sản trả lại tài sản.

Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số lời khuyên thiết thực:

Phân định rõ ràng ngay từ đầu: Khi đưa một khoản tiền lớn, hãy xác định rõ với đối phương và có chứng cứ rằng đó là quà tặng hay khoản vay. Nếu là vay, một tin nhắn xác nhận đơn giản cũng có giá trị pháp lý quan trọng.

Thu thập chứng cứ: Mọi giao dịch dù thân thiết đến đâu cũng nên có “dấu vết”. Lưu giữ tin nhắn, biên lai chuyển khoản (ghi rõ nội dung), hoặc giấy biên nhận.

Xác định căn cứ khởi kiện: Trước khi nghĩ đến kiện tụng, hãy tự đánh giá xem bạn thuộc trường hợp nào: tặng cho thông thường (rất khó đòi), tặng cho có điều kiện (cần chứng minh điều kiện), hay cho vay (cần chứng minh thỏa thuận vay).

Kết luận:

Pháp luật dân sự bảo vệ quyền sở hữu và các giao dịch dân sự tự nguyện. Câu trả lời cho việc “chia tay có đòi lại tiền, nhà đất đã tặng được không?” không phải là “có” hay “không” tuyệt đối, mà phụ thuộc hoàn toàn vào bản chất pháp lý của hành vi đưa tiền hay tài sản đó. Sự rõ ràng trong ý chí và chứng cứ ngay từ đầu chính là chìa khóa quan trọng nhất để bảo vệ quyền lợi chính đáng của bạn, tránh những tranh chấp không đáng có khi tình yêu không còn trọn vẹn.

An Yên
Bình luận
vtcnews.vn